Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Saturday, May 27, 2006

Tường Thuật chuyến viếng thăm Ba Lan

Tường Thuật chuyến viếng thăm Ba Lan

của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI

Ngày thứ Sáu, 26 tháng 5 năm 2006



Prepared for Internet by Radio Veritas Asia, Philippines



Tường Thuật chuyến viếng thăm của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI tại BaLan. Ngày thứ 2 của chuyến viếng thăm, thứ Sáu, ngày 26 tháng 5 năm 2006.

(Radio Veritas Asia 27/05/2006) - Quý vị và các bạn thân mến. Ngày thứ Bảy, 27 tháng 5 năm 2006, Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI sẽ từ Cracovia, --- nơi ngài đã đến từ chiều hôm thứ Sáu --- và đi thăm những nơi có liên hệ đặc biệt với cuộc đời của Ðức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II; chẳng hạn như: ban sáng, sau khi dâng thánh lễ riêng tại nhà nguyện của Tòa Tổng Giám Mục, ÐTC đi thăm Wadowice nơi sinh trưởng của đức Gioan Phaolô II, và ngỏ lời với dân chúng tại quảng trường Rynek của Wadowice. Buổi Trưa, ÐTC đi thăm Ðền Thánh Ðức Mẹ tại Kalwaia, rồi đi thăm Ðền Thánh Kính Tình Thương Thiên Chúa, tại Cracovia, rồi thăm Nhà Thờ Chính Tòa Wawel, cũng tại Cracovia. Ðặc biệt là buổi tối, ÐTC đến công viên Blonie, của Cracovia, để gặp gỡ với các bạn trẻ. Chúng tôi sẽ kể về những biến cố của ngày viếng thăm thứ Bảy 27/05/2006, trong chương trình phát thanh lần tới.




--------------------------------------------------------------------------------

Quang cảnh lúc ÐTC Beneđitô XVI cử hành thánh lễ tại quảng trường Pilsudski, ở trung tâm thủ đô Warsaw, Ba Lan.

--------------------------------------------------------------------------------

Giờ đây, trong chương trình phát thanh này, chúng tôi xin kể lại những biến cố đặc biệt của ngày viếng thăm hôm thứ Sáu, 26 tháng 5 năm 2006.

Chúng ta có thể chú ý đặc biệt đến hai biến cố sau đây: buổi sáng, ÐTC cử hành Thánh Lễ cho dân chúng tại quảng trường Pilsudski, nằm ở trung tâm thủ đô Warsava, và buổi chiều, ÐTC gặp và ngỏ lời với các tu sĩ nam nữ, các chủng sinh, những người sống đời tận hiến, các thành viên của các phong trào giáo hội khác nhau, tại Ðền Thánh Kính Ðức Mẹ Ðen, ở Jasna Gora, Czestochowa, Trung Tâm Hành Hương Quốc Gia BaLan.

Nhưng trước khi kể về hai biến cố này của ngày thứ Sáu 26 tháng 5 năm 2006, chúng tôi xin được kể vắn tắt về cuộc gặp gỡ đại kết quan trọng, tại Nhà Thờ kính Thiên Chúa Ba Ngôi của anh chị em tin lành Luthêrô, vào chiều thứ Năm 25 tháng 5 năm 2006, ngày thứ nhất của chuyến viếng thăm 4 ngày tại BaLan. Công cuộc đại kết nhắm đến sự hiệp nhất trọn vẹn giữa tất cả mọi người Kitô, là ưu tiên hàng đầu của đức Bênêđitô XVI. Ðây cũng chính là lý do thôi thúc Ðức Thánh Cha có cuộc gặp gỡ đại kết, liền ngay buổi chiều ngày ÐTC đến thăm thủ đô Warsava.

Tuy cuộc gặp gỡ đại kết này được tổ chức trong Nhà Thờ Kính Thiên Chúa Ba Ngôi, của anh chị em tin lành Lutherô, nhưng những đại diện của các giáo hội kitô khác tại Balan, đều có gởi phái đoàn đến tham dự cuộc gặp gỡ này.

Trước khi ÐTC Bênêđitô XVI đọc bài diễn văn của ngài, thì Ðức Tổng Giám Mục Chính Thống Giáo tại BaLan, đã nói vài lời chào mừng ÐTC, và nhắc lại rằng chính Ðức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cũng đã đến Nhà Thờ kính Thiên Chúa Ba Ngôi này vào năm 1991, để có cuộc gặp gỡ đại kết. Ðức Tổng Giám Mục đã nói như sau: "Chúng tôi tin tưởng nhìn vào việc mở lại đối thoại giữa giáo hội Chính thống giáo và giáo hội Công giáo."

Về phần ÐTC, trong bài diễn văn, ÐTC nói đến những hoạt động từ thiện bác ái và gia đình, như là hai lãnh vực thuận tiện để củng cố sự hiệp nhất kitô. ÐTC mời gọi các giáo hội kitô hãy cộng tác với nhau để thực hiện những sáng kiến bác ái đại kết. ÐTC nói: việc thực hành tình bác ái huynh đệ làm cho chúng ta càng ngày càng xích lại gần nhau hơn và làm cho chứng tá của chúng ta cho Chúa Kitô được trở nên đáng tin hơn.

Về đời sống hôn nhân và gia đình, ÐTC ghi nhận là càng ngày càng có nhiều bạn trẻ thuộc về những giáo hội kitô khác nhau, muốn kết hôn với nhau. Do đó, ÐTC mời gọi các giáo hội kitô khác nhau hãy thiết lập một giáo lý kitô chung về hôn nhân và gia đình.

Cuối cùng, ÐTC nhắc lại rằng chúng ta không thể nào thực hiện sự hiệp nhất kitô, bằng tự sức lực riêng của mình. Sự hiệp nhất kitô là một hồng ân của Chúa Thánh Thần. Vì thế, những khát vọng đại kết của chúng ta cần được thấm nhập trong lời cầu nguyện, trong sự tha thứ cho nhau, và trong đời sống thánh thiện của mỗi người. Nhắc lại biến cố Ðức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II đã có cuộc gặp gỡ đại kết vào năm 1991, tại cùng địa điểm nầy, ÐTC nhận định rằng: "nhiều điều đã được thay đổi" kể từ lần gặp gỡ năm 1991." ÐTC đã nói thêm như sau: "Thiên Chúa đã thương ban cho chúng ta thực hiện nhiều bước tiến tới việc hiểu nhau và sống gần nhau nhiều hơn... Phải, đã có nhiều tiến bộ trong lãnh vực đại kết, nhưng chúng ta luôn chờ đợi thêm những bước tiến mới nữa.

Giờ đây, kính mời quý vị và các bạn theo dõi hai biến cố chính của ngày thứ Sáu 26 tháng 5 năm 2006.

Trước hết là vào buổi sáng, ÐTC dâng thánh lễ cho dân chúng tại quảng trường Pilsudski, nằm ở trung tâm thủ đô Warsava. Mặc dù lúc đó trời mưa, nhưng vẫn có hàng trăm ngàn người tham dự thánh lễ này. Quảng trường Pilsudski mang nhiều kỷ niệm. Trong lời chào mừng ÐTC vào khởi đầu thánh lễ, Ðức Hồng Y Josef Glemp đã nhắc lại rằng: Ðức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II đã cử hành thánh lễ đầu tiên của ngài, như là người kế vị thánh Phêrô, trên quê hương Balan, tại quảng trường này, vào ngày 2 tháng 6 năm 1979. Thánh lễ an táng Ðức Hồng Y Wyszynski đã được cử hành tại quảng trường này vào ngày 31 tháng 5 năm 1981. Thánh Lễ phong chân phước cho 108 vị tử đạo BaLan, đã được đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II cử hành, tại quảng truờng này vào tháng 6 năm 1999. Ðức Hồng Y Glemp cũng nhắc đến vai trò "bắc cầu", "thiết lập những tương quan" của Ðức Giáo Hoàng, và trước hết là chiếc cầu thiêng liêng giữa trời và đất, giữa đời sống thể xác và linh hồn. Ðức Hồng Y nói như sau: "Cho dù chiếc cầu được dựa trên cột trụ Ðức Tin và cột trụ Chúa Giêsu Kitô, nhưng chủ thuyết vô thần trong lãnh vực chính trị đã làm cho cây cầu ấy bị yếu đi." Ai ai cũng hiểu là Ðức Hồng Y Glemp ám chỉ đến hoàn cảnh của BaLan thời sống trong chế độ cộng sản.

Phần Ðức Thánh Cha, trong bài giảng, ngài đã nhắc cho người công giáo BaLan đừng để mình rơi vào chủ nghĩa tương đối và cũng đừng chiều theo việc giải thích Kinh Thánh một cách chủ quan. ÐTC đã nói như sau: "Chúng ta đừng rơi vào cám dỗ của chủ thuyết tương đối hóa hoặc của việc giải thích Kinh Thánh cách chủ quan và chỉ lọc lựa những gì mình thích mà thôi... Chỉ có sự thật trọn vẹn mới có thể làm cho chúng ta gắn bó với Chúa Kitô, Ðấng đã chết và sống lại để cứu rỗi chúng ta... Ngày hôm nay cũng như trong những thế kỷ đã qua, có những con người và những môi trường muốn làm sai lạc lời nói của Chúa Kitô và cắt bỏ đi những sự thật của Phúc âm, vừa bỏ đi Thánh Truyền của hàng bao thế kỷ. Theo họ, những sự thật của Phúc âm gây phiền phức cho con người ngày nay." Theo Ðức Thánh Cha, những kẻ nói trên cố gắng tạo ra cảm tưởng rằng tất cả mọi sự là tương đối, và rằng những sự thật của đức tin là tùy thuộc vào hoàn cảnh lịch sử cũng như tùy vào việc thẩm định của con người. ÐTC mạnh mẽ quả quyết rằng: "Giáo Hội không thể nào để cho Thánh Thần của sự Thật phải im lặng." ÐTC xác nhận rằng cùng với các giám mục, ngài chịu trách nhiệm gìn giữ sự thật của Phúc âm. Nhưng không phải chỉ một mình ngài, mà tất cả mọi ngưòi kitô đều chia sẻ trách nhiệm này. ÐTC giải thích thêm như sau: Mỗi người kitô có bổn phận liên lỉ đối chiếu những xác tín của mình với giáo huấn của Phúc âm và với giáo huấn của Thánh Truyền của Giáo Hội, trong dấn thân sống trung thành với Lời Chúa, cả khi lời Chúa xem ra đòi hỏi và khó hiểu trên bình diện con người. Sống với Chúa Kitô có nghĩa là sẵn sàng từ bỏ tất cả những gì chối bỏ tình yêu Chúa. Trở lại với chủ đề của chuyến viếng thăm BaLan, ÐTC lên tiếng mời gọi các tín hữu hãy "kiên vững trong Ðức Tin". Ngài mời gọi các tín hữu BaLan hãy vun trồng không những phần gia tài mà các thế hệ đàn anh đã để lại, nhưng còn phải vun trồng phần gia tài tư tưởng và việc phục vụ của vị giáo hoàng vĩ đại người BaLan, là Ðức Gioan Phaolô II. ÐTC Bênêđitô XVI đã đặt ra câu hỏi như sau: Làm sao anh chị em không cảm tạ Thiên Chúa cho được, vì tất cả mọi sự đã được thực hiện tại quê hương BaLan của anh chị em cũng như trên toàn thế giới trong triều giáo hoàng của Ðức Gioan Phaolô II?




--------------------------------------------------------------------------------

Quang cảnh lúc ÐTC Beneđitô XVI viếng thăm Czestochowa, tại Ðền Thánh Kính Ðức Mẹ Ðen, nằm trên ngọn đồi, gọi là "Jasna Gora", có nghĩa là "Núi Ánh Sáng".

--------------------------------------------------------------------------------

Kết thúc bài giảng, --- một bài giảng đã được cộng đoàn tham dự thánh lễ trong đó có cả vị Tổng Thống của BaLan hoan hô nhiều lần --- ÐTC đã nói như sau: "Anh chị em thân mến, Ðức Tin, --- xét như là sự gắn bó với Chúa Kitô --- được biểu lộ như là tình thương thôi thúc con người cổ võ điều thiện hảo mà Ðấng Cứu Thế đã đưa vào trong bản tính của mọi người nam nữ chúng ta, trong nhân cách của mọi người, và trong tất cả những gì hiện hữu trong thế giới. Ai tin và yêu thương như thế, thì sẽ trở thành người xây dựng nền văn minh đích thực của tình thương, mà Chúa Kitô là trung tâm. Cách đây 27 năm, tại chính nơi đây, Ðức Gioan Phaolô II đã nói như sau: "BaLan đã trở thành trong thời đại hôm nay một đất nước của lời chứng đầy trách nhiệm" (Warsava, 2 tháng 6 năm 1979). Tôi xin anh chị em hãy vun trồng phần gia tài phong phú này của đức tin, được các thế hệ trước lưu truyền lại cho anh chị em; hãy vun trồng phần gia tài tư tưởng và việc phục vụ của Vị Giáo Hoàng Vĩ đại người BaLan, là Ðức Gioan Phaolô II. Anh chị em hãy kiên vững trong đức Tin. Hãy thông truyền Ðức Tin cho con cái anh chị em; hãy làm chứng cho ân sủng mà anh chị em đã cảm nghiệm được một cách dồi dào, qua Chúa Thánh Thần, trong lịch sử cuộc đời của anh chị em. Nguyện xin Mẹ Maria, Nữ Vương BaLan, chỉ cho anh chị em biết con đường đi đến Chúa Kitô, Con Mẹ; xin Mẹ đồng hành với anh chị em, trên con đường tiến đến tương lai hạnh phúc và tràn đầy bình an. Ước chi đừng bao giờ thiếu trong tâm hồn anh chị em tình yêu đối với Chúa Kitô và đối với Giáo Hội của Chúa"

Quý vị và các bạn thân mến. Vừa rồi là vài điểm nội dung chính của bài giảng của Ðức Thánh Cha Bênêđitô XVI trong thánh lễ dành cho dân chúng, vào sáng thứ Sáu, ngày 26 tháng 5 năm 2006, tại quảng trường Pilsudski, nằm ở trung tâm thủ đô Warsava. Sau thánh lễ, ÐTC trở lại Tòa Sứ Thần Tòa Thánh dùng cơm trưa và nghỉ đôi chút, để rồi lúc 3 giờ chiều, ÐTC ra phi trường và dùng Trực Thăng đi Czestochowa, đến hành hương Ðền Thánh Kính Ðức Mẹ Ðen, nằm trên ngọn đồi, gọi là "Jasna Gora", có nghĩa là "Núi Ánh Sáng". Tại đây, vào lúc 5 giờ 30 phút chiều, ÐTC gặp gỡ với các Tu Sĩ Nam Nữ, các Chủng Sinh, Những Người sống đời tận hiến, và các thành viên của các phong trào giáo hội. ÐTC đã không qua đêm tại Czestochowa; nhưng vào lúc 7 giờ 15 phút tối, ngài dùng trực thăng, đi Cracovia.

Biến cố Ðức Thánh Cha gặp các Tu Sĩ Nam Nữ và Chủng Sinh vào chiều thứ Sáu 26 tháng 5 năm 2006, tại Ðền Thánh Ðức Mẹ Ðen, cũng là biến cố quan trọng và bài huấn đức của ngài rất có ý nghĩa. ÐTC đã dùng hình ảnh kinh thánh: "Mẹ Maria hiện diện giữa các tông đồ nơi phòng Tiệc Ly", để cầu nguyện với các ngài, và chuẩn bị lãnh nhận Chúa Thánh Thần", --- để so sánh với cuộc tặp họp mọi người quanh Mẹ Maria tại Ðền Thánh Jasna Gora, để xin Mẹ hướng dẫn, xin Mẹ dạy ta biết cầu nguyện, xin Mẹ giúp ta mở rộng tâm trí đón nhận quyền năng Chúa Thánh Thần, Ðấng ngự đến với chúng ta, để rồi được chúng ta mang đến cho thế giới. ÐTC quả quyết như sau: "Mẹ Maria đã nâng đỡ Ðức Tin của Phêrô và của các tông đồ trong Nhà Tiệc Ly. Ngày nay, Mẹ nâng đỡ Ðức Tin của tôi và đức tin của anh chị em.

Quý vị và các bạn thân mến. Chúng tôi sẽ còn kể tiếp về những biến cố này trong buổi phát lần tới. Mong quý vị và các bạn sẽ theo dõi.



(Ðặng Thế Dũng)
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, March 30, 2006

    NHỮNG NGÀY HỒNG PHÚC

    NHỮNG NGÀY HỒNG PHÚC

    Sau khi mừng Chúa Nhật V Mùa Chay, chúng ta Chúa Nhật Lễ Lá, và tiếp theo là Tuần Thánh. Tuần Thánh là cao điểm của Năm Phụng Vụ Giáo Hội với ba ngày đặc biệt: Thứ Năm để kỷ niệm Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể và Chức Linh Mục, ngày cầu nguyện cho chúng ta thêm lòng sùng kính Chúa Giêsu Thánh Thể và xin ơn thánh hóa cho các Linh mục và hàng giáo sĩ; Thứ Sáu kỷ niệm Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, ăn chay kiêng thịt và cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn thống hối lỗi lầm và cho những người đau khổ trên thế giới luôn biết vác Thánh giá theo chân Chúa; Thứ Bảy kỷ niệm việc Chúa chịu an táng trong mồ, ngày chúng ta cố gắng giữ im lặng trong tâm hồn để suy ngẫm sự thương khó và cái chết của Chúa vì tội lỗi chúng ta, và dọn tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh; tiếp theo là Chúa Nhật Đại Lễ Phục Sinh.

    Nêu lên những điểm chính của Phụng vụ trong những ngày sắp tới là để chúng ta cùng nhắc nhở cho nhau sống ý nghĩ từng ngày còn lại của Mùa Chay; đặc biệt với ba công việc chính là: CẦU NGUYỆN nhiều hơn. Cầu nguyện riêng tư để chúng ta có nhiều giờ đặt mình trước mặt Chúa và suy nghĩ về cuộc đời và cố gắng sửa đổi để nên tốt đẹp hơn; đó là thánh hóa bản thân. Cầu nguyện chung trong gia đình để tạo được bầu khí đạo đức và thánh hóa gia đình chúng ta. Những gia đình biết cầu nguyện chung là những gia đình dể sống hợp nhất và yêu thương nhau. HÃM MÌNH trong việc ăn uống. Hãm mình trong con mắt, trong lời nói và xa tránh những dịp tội lỗi, những nơi tội lỗi. Hãm mình trong lời nói để tránh gây chia rẻ và bất hòa. Hãm mình cũng là cách rất tốt để thánh hóa bản thân và gia đình. Ngòai ra hãm mình trong những chi tiêu để dành dụm và giúp đở những người nghèo khó trên thế giới. Làm VIỆC TỪ THIỆN (làm phúc bố thí) là cách đền tội tốt nhất. “Giúp đở những người nghèo khó thì tẩy xóa được mọi tội lỗi.” (Giving to the poor expiates every sin.” (Sách Tôbia 12:8). Thánh Lêo Giáo Hòang viết: “Lúc nào cũng là thời gian thuận tiện để làm việc từ thiện; nhưng đặc biệt nhất trong Mùa Chay… Lòng thương người bao gồm mọi nhân đức và xóa bỏ được muôn vàn tội lỗi!”.

    Xin cầu nguyện chung cho nhau để những ngày còn lại trong Mùa Chay Thánh này là những ngày HỔNG PHÚC, những ngày được sống kết hiệp mật thiết hơn với Chúa, sống hòa hiệp yêu thương nhau hơn, và chung tay xây dựng gia đình và thế giới chúng ta nên tốt đẹp hơn, đòan kết và yêu thương nhau hơn để mừng Đại Lễ Phục Sinh sắp tới.

    (Lm. Anphong Trần Đức Phương).
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, March 09, 2006

    Vinh danh tấm lòng bác ái vô bờ bến

    Vinh danh tấm lòng bác ái vô bờ bến
    của Sơ Mai Thị Mậu

    VietCatholic News (06/03/2006)

    Phương Anh

    Tấm lòng bác ái của Sơ Mai Thị Mậu

    Hàng năm, cứ đến ngày 8 tháng 3 là ngày Quốc Tế Phụ Nữ, được thế giới dành để vinh danh cho chị em phụ nữ chúng ta. Trong chương trình đặc biệt nhân dịp ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8-3 năm nay, Phương Anh xin dành để giới thiệu đến quí vị một nữ tu, vừa được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động.

    Có thể nói đây là lần đầu tiên, một vị tu hành được nhà nước phong tặng danh hiệu rất cao quí này. Người đó chính là sơ Mai Thị Mậu, thuộc Tu Hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn.

    Thưa quí vị và các bạn, vào năm 1941, ở xã Hải An, Hải Hậu, Nam Định, một bé gái ra đời.Lớn lên, trong sự giáo dục của cha mẹ và với lòng từ tâm vô bờ bến, cô quyết định nguyện suốt đời phục vụ cho người nghèo khổ bất hạnh và trở thành nữ tu Tu Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn. Năm 1968, người nữ tu trẻ tuổi này tình nguyện đến trại phong cùi Di Linh. Lúc bấy giờ, Sơ Mai Thị Mậu vừa tròn 27 tuổi.

    Trại phong cùi Di Linh

    Vào năm 1973, khi cha Cassaigne, người sáng lập làng phong cùi này qua đời vì bị lây bệnh, người nữ tu trẻ tuổi này quyết định xin ở lại trại cùi vĩnh viễn để được tiếp tục săn sóc cho các bệnh nhân. Nơi rừng thiêng nước độc và hẻo lánh, cả làng phong cùi chỉ có đôi ba nữ tu phục vụ, chẳng một ai ngó ngàng đến. Sơ kể lại:

    "Lúc đó, đối với mọi người ai cũng sợ hết, những người phong họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ như nhà của họ, cách mấy chục thước thì họ làm cho cái nhà để mà ở. Thời đó ai cũng sợ lắm, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ.Chỉ ngoài những nữ tu phục vụ thì ở đó thôi. Cũng không có bệnh viện nào nhận hết, chỉ có một bệnh viện Chợ Quán, có hai chục giường là để riêng cho người bị bệnh phong, cần nằm thì cho nằm thôi.Còn ngoài ra, tất cả các bệnh viện khác, không có ai nhận người phong hết, vì họ quá sợ.Thành ra, trong trại, các nữ tu theo nghề nghiệp của mình phải lo cho họ, tất cả mọi thứ, ngoài bệnh phong ra, phải tìm mọi cách để mà lo cho họ... "

    Lúc đó, đối với mọi người ai cũng sợ hết, những người phong họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ như nhà của họ, cách mấy chục thước thì họ làm cho cái nhà để mà ở. Thời đó ai cũng sợ lắm, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ.

    Sơ Mai Thị Mậu kể lại

    Là một y tá, Sơ Mậu chịu trách nhiệm trực tiếp điều trị cho bệnh nhân. Bà nói: "Tay chân họ bị mất ngón, cụt, có thể nói là họ bị rụt, tức là nó nhỏ xíu lại, còn cong thì nó co lại, không kéo ra được..vi trùng này nó làm hại đến dây thần kinh trên mặt, trên tay.làm cho miệng méo, mắt không nhắm được, mũi thì sập cái sống mũi.bệnh này để lại tàn phế, bàn chân, bàn tay cứ bị co rụt cho nên bây giờ còn tồn tại là vì phải nuôi những người bị tàn phế, chân tay họ còn lở loét, mình còn phải chăm sóc họ."

    Nâng đỡ tinh thần của bệnh nhân

    Không những chỉ chăm sóc về thể xác, mà Sơ còn tìm cách nâng đỡ tinh thần của họ. Đa số những bệnh nhân khi đến trại đều bị gia đình bỏ rơi, hàng xóm láng giềng ghẻ lạnh.Sơ cho hay:

    "Ngày xưa, họ ở theo tập thể gia đình, cứ mỗi một cái nhà bằng gỗ, 12 thước, chia ra, những người độc thân thì chung với nhau, 2, 3 người chung một phòng, rất là thiếu tiện nghi. Lúc đó, cũng ít người có gia đình, vì những người vợ, hay chồng bị phong bị bỏ, thì vô trại, còn những vợ hay chồng không bị phong thì họ ở lại làng.đương nhiên là người ta sẽ lấy chồng khác, vợ khác. Khi họ vào đây thì họ lại lấy nhau làm thành một gia đình khác.Con cái theo mẹ, nếu sinh con ở đây thì con cái thuộc về đây luôn."

    Được hỏi làm thế nào để tránh cho con cái của bệnh nhân không bị nhiễm vi khuẩn phong? Sơ cho biết: lúc đầu, cách ly con ngay khi lọt lòng mẹ. Thế nhưng, vì điều kiện vật chất quá thiếu thốn nên khi tách con sớm như thế thì hay bị chết non.

    Do đó, Sơ Mậu quyết định để hẳn trong trại phong nhưng cách ly sinh hoạt, cho ăn uống và ngủ riêng. Nhờ vậy, sự lây lan cũng đỡ dần. Với quyết tâm xây dựng tương lai cho các con của bệnh nhân được học hành đến nơi đến chốn, Sơ Mậu tìm mọi cách thuyết phục các trường học thu nhận các em này. Sơ kể lại: "Hồi đầu tiên họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là chúng nó không có bệnh thì họ mới cho học.Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố HCM hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau.

    Những em học về ngành Y thì tụi nó trở về đây giúp, còn các ngành khác thì mình xin việc cho chúng nó làm như đi dậy học ở trường của tỉnh, còn kỹ sư thì chúng nó tự xin công việc ở thành phố hay các tỉnh.

    Nhưng nếu mình cần, thì cũng kêu các em về và cũng trả lương cho các em, thí dụ như em nào là kỹ sư nông nghiệp, mình có đất sản xuất, chăn nuôi, thì phải nhờ nó, thì mình cũng trả lương để các em về làm cho mình.Còn các em y, bác sĩ, thì nhà nước họ trả tiền lương."

    Hồi đầu tiên họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là chúng nó không có bệnh thì họ mới cho học.Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố HCM hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau.

    Làng phục hồi

    Để giúp cho gia đình của các bệnh nhân tự lập và hoà nhập vào cộng đồng, Sơ Mậu nảy ra sáng kiến lập làng phục hồi. Cũng nhờ ngày xưa, trước năm 1975, với sự hỗ trợ của nhà Dòng và các ân nhân, Sơ mua được một miếng đất hoang vu, cách trại chừng 12 km, và đưa những người còn có khả năng làm việc về nơi ấy sinh sống và khai khẩn đất hoang, Sơ nói: "Những người đó đã sạch vi trùng, tuy họ tàn phế, nhưng họ đã hết vi khuẩn rồi, cùng với con em của họ về đấy để làm thành một làng luôn, để họ hoà đồng vào xã hội.Tất cả những ai còn sức lao động, hay tàn phế vừa vừa thì mình chuyển họ lên đó, vì họ ở quá lâu trong này, không còn đất đai, nhà cửa nữa.nên nhờ có miếng đất đó họ làm ăn.

    Sau này, mình tập cho họ tự lo liệu lấy với hết khả năng của họ, rồi thiếu tới đâu, mình lo tới đó.mình tập cho họ không trở thành gánh nặng cho xã hội nữa.Thí dụ mình khoẻ mạnh thì mình làm được 90%, thì họ làm được 40%...."

    Cũng theo lời Sơ Mậu, hầu hết kinh phí để lo cho đời sống của bệnh nhân và con cái của họ là do các nữ tu tự xoay sở lấy. Trước kia, trại có sự hỗ trợ của nhà dòng và các ân nhân cùng bạn bè của cha Cassaigne. Sau năm 1975, nhà nước bắt đầu quản lý, thì:

    "Nhà nước quản lý thì được 5 ký gạo, và 5000 ngàn cho mỗi bệnh nhân..Sau đó, cứ lên dần, 20 ngàn, 50 ngàn.rồi 100 ngàn.bắt đầu năm nay thì được hai trăm ngàn một người.Bây giờ ở Việt Nam cũng nhờ có phong trào làm việc xã hội, nên họ cũng rủ nhau, qua những đoàn đi tham quan Đà Lạt, hoặc là thăm chuà, bên Công Giáo là các ngày lễ lớn, hay tết, thì người ta cũng rủ nhau đến tặng quà cho bệnh nhân.mỗi chỗ họ cho một ít."

    Sau 38 năm làm việc tại trại phong Di Linh, giờ đây, nhìn lại những gì đã trải qua, Sơ tâm sự: "Trong một khu vực mà chẳng một ai dám đến, nên đỡ đẻ cũng mình, nhổ răng cũng mình, chăm sóc cũng mình, chôn cất cũng mình, rồi lo ăn uống cũng mình.rồi lo nhà cửa cho họ. như một người mẹ lo cho các con vậy. Thật ra thì mình cũng có lý tưởng của mình rồi, không có sợ gì cả, giống như những người họ dấn thân vào bệnh Sida, nếu người ta sợ, người ta đâu có dấn thân lo cho Sida.

    Mình tận hiến để lo cho họ, những anh em nghèo khổ, đó là mục đích của mình.chăm sóc cho họ về thể xác và lo cho họ về tinh thần, dậy dỗ, giáo dục cho các em về nhân bản, sống thành một người công dân tốt trong xã hội và có thể đưa họ đến đời sống thánh thiện nữa. Mình phục vụ cho họ là vô vị lợi, chứ cũng chẳng cho gia đình mình."

    Tấm lòng của người mẹ

    Nữ hộ sinh kiêm điều dưỡng Ka Siuh, năm nay 31 tuổi, hiện đang làm việc tại khu điều trị thì nói: "Em sinh ra và lớn lên trong trại cùi này luôn.Dì Mậu như là người mẹ của tụi em vậy, dì săn sóc tụi em từ khi mới sinh ra cho đến khi lớn lên, học hành và lo cho tụi em đến khi thành tài."

    Anh Krung, năm nay 42 tuổi cho biết: "Tôi là người dân tộc. Tôi sống ở được 6 năm rồi, vô đây được các dì giúp đỡ. Từ ngày tôi mắc bệnh, tôi bất mãn và chán chường lắm. Từ khi tôi vô trại, được sự giúp đỡ, tôi cũng bớt mặc cảm đi.

    Tôi sống rất thoải mái và hạnh phúc. Trong một thời gian điều trị thì tôi hết bệnh.được sơ đào tạo cho một nghề sửa xe. Tôi thấy sơ Mậu như một người mẹ tốt, đã tận tình giúp tôi trong những ngày tôi đau ốm."

    Bác Đinh Văn Cung, người đã sống trong trại 40 năm qua, hiện có hai con đang theo học Đại Học Y Dược ở TPHCM, đã phát biểu:

    "Trong gần 40 năm, dì đã yêu thương, tận tình chăm sóc chúng tôi và làm cho cuộc sống của chúng tôi được hạnh phúc và tràn đầy niềm vui, những điều mà tưởng rằng chúng tôi không bao giờ có được nữa khi chúng tôi phải chịu nỗi bất hạnh của bệnh phong cùi.

    Dì đã cho con cái của chúng tôi một tương lai tươi sáng khi lo lắng, giúp đỡ, khích lệ từng đưá con của chúng tôi nỗ lực học tập để hoà nhập vào cộng đồng."

    Rất bản lĩnh

    Còn với Sơ Tiến, người đã làm việc trong trại 22 năm qua bên cạnh Sơ Mậu. Chứng kiến bao sự thăng trầm và gian nan vất vả của Sơ Mậu, thì chia xẻ: "Sơ Mậu là một người rất có bản lĩnh trong vấn đề phục vụ.giống như những người kinh doanh để làm giầu, bà bạo gan, bà dám nói, dám làm, bà rất táo bạo trong những công việc để phục vụ cho các bệnh nhân chứ không phải cho cá nhân bà.Nhờ đó, mà cho đến ngày hôm nay, các bệnh nhân và con em của bệnh nhân mới có được như ngày hôm nay."

    Thưa quí vị, vừa rồi là câu chuyện về Sơ Mai thị Mậu, người đã hy sinh và tận hiến cả cuộc đời mình ở trại cùi Di Linh, Lâm Đồng. Với tâm nguyện phần nào chăm sóc và xoa dịu những nỗi bất hạnh của những người bệnh phong cùi, với quyết tâm đem lại cho đời sống và con cái của họ được có một tương lai tốt đẹp, Sơ đã kiên trì vượt qua bao gian khổ, cùng chia xẻ bao mồ hôi và nước mắt với bệnh nhân, để ngày nay họ được hưởng một cuộc sống tươi sáng hơn.

    Cảm phục thay sự can đảm và hy sinh của bà ! Phương Anh xin dừng nơi đây. Hẹn gặp lại quí vị trong chương trình kỳ sau.

    Phương Anh
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tuesday, March 07, 2006

    HITLER và ĐGH PIÔ XII

    Vào trung tuần tháng 12, 2005, Thủ Tướng Iran, Mahmoud Ahmadinejad, đã làm phẩn nộ nhiều Quốc Gia, kể cả Đức Quốc, khi phát biểu rằng câu chuyện về Cuộc Tàn Sát Người Do Thái ở Âu Châu, dưới thời Adolf Hitler (1889-1945), chỉ là chuyện hoang dường…

    Thực Sự, truyền thuyết “về tàn sát người Do Thái dưới thời Hitler chỉ là chuyện hoang đường…” đã có từ lâu trong thế giới Ả-rập.

    Ngược lại, tại Phương Tây, đã từ nhiều năm, có những phong trào lên án ĐGH Piô XII là người đã không làm gì để cứu vãn người Do Thái trong cuộc tàn sát người Do Thái của Hitler.

    Một học giả và cũng là Thầy Tế Lễ người Do Thái, Rabbi David G. DALIN, đã xuất bản cuốn sách: “THE MYTH OF HITLER’ S POPE: How Pope Pius XII Rescued Jews from the Nazis” để nói lên sự thật ngược hẳn lại với những quan niện sai lầm trên đây về cuộc Tàn Sát (The Holocaust) người Do Thái của Hitler và về Đức Piô XII. Cuốn“The Myth of Hitler’s Pope…”(Bìa Cứng) xuất bản vào tháng 7, năm 2005, Publisher Regnery Publishing, Inc.

    Rabbi David G. Dalin là tác giả và Đồng Tác Giả của nhiều cuốn sách, trong số đó có những cuốn như: The Presidents of The United States and the Jews (viết chung với Jonathan D. Sarna), Religion and State in the American Jewish Experience. Rabbi David đã tốt nghiệp Trường Đại Học UC Berkley với bằng Cử Nhân, và trường Đại Học Brandeis với bằng Cao Học và Tiến Sĩ; chịu chứcTư Tế tại Jewish Theological Seminary of America.

    Báo “Columbia” (của Hiệp Hội Knights of Columbus), tháng 11, 2005, đã giới thiệu cuốn sách trên đây bằng cách trích đăng một đọan trong cuốn sách (với sự chấp thuận của Tác Giả và Nhà Xuất Bản) với Tiêu đề : “Setting The Record Straight”. Bản lược dịch ra tiếng Việt Nam dưới đây căn cứ vào đọan trích này.

    (Lm. Anphong Trần Đức Phương)

    Thật là một điều khôi hài, khi mà đã 60 năm sau cuộc “Tàn Sát” (Holocaust), cùng với phong trào chống Do Thái (anti-Semitism) sôi động của những người Hồi Giáo cực đoan hiện đang phát triển mạnh mẽ giữa dân chúng ở Âu Châu, những phương tiện truyền thông vô lối ở Phương Tây vẫn đang cố gắng kết án ĐGH Piô XII (và kết án ngay cả Giáo Hội Công Giáo nói chung) là chống Do Thái.
    Trước đây chẳng ai tin được điều đó. Từ sau Thế Chiến II chấm dứt cho đến ít nhất là năm năm sau khi băng hà vào năm 1958, Đức Piô XII luôn được tôn sùng giữa những người theo Kitô giáo cũng như Do Thái giáo. Ngài đã được ca ngợi như là “nhà Tiên Tri tinh thần cương nghị và gây hứng khởi cho nhiều người” và “hầu như được cả thế giới hoan nghênh vì đã cứu những người Do Thái ở Âu Châu”. Đúng như một sứ giả đã nói: “Đức Piô XII đã được những người Công Giáo hay ngòai Công Giáo ca tụng ở khắp nơi như một vị lãnh đạo tinh thần không những của thế giới Công Giáo mà cho cả chính nền văn minh Âu Châu.”

    Vậy tại sao có huyền thọai là Giáo Hội đã không để ý đến những khốn khổ của người Do Thái trong Thế Chiến II? Và tại sao điều đó lại đáng quan tâm?

    Điều đó đáng quan tâm, trước hết, vì bổn phận phải tôn trọng sự thật. Điều đó cũng đáng quan tâm vì công cuộc bảo vệ danh tiếng của Đức Piô XII là một trong những công cuộc quan trọng nhất trong lịch sử của mặt trận văn hóa. Giới trí thức tả khuynh càng ngày càng “tả khuynh” hơn, muốn dèm pha chẳng những truyền thống Công Giáo mà cả truyền thống Kitô Giáo và ngay cả Do Thái Giáo. Không phải ngẩu nhiên mà những người đả kích Đức Piô XII mạnh mẽ nhất lại cũng là những người phê bình lớn tiếng Đức Giáo Hòang Gioan Phaolô II.

    Sự phủ nhận cuộc “Tàn Sát người Do Thái” phải bị bác bỏ. Sự thật về Đức Piô XII phải được phục hồi. Sư thật mà những phương tiện truyền thông đã ra sức chối bỏ chỉ giúp cho nhưng cuốn sách viết sai về lịch sử được bán chạy. Cuộc chiến của trào lưu ‘văn hóa vô lối’ chống lại nền văn hóa truyền thống, trong đó điển hình là cuộc chiến chống Đức Piô XII, phải được nhận diện rõ ràng; đó là cuộc tấn công ồ ạt vào nền tảng của Giáo Hội Công Giáo và nền tảng của tôn giáo truyền thống.

    Một trong những hậu quả tai hại nhất gây ra do huyền thọai về Đức Piô XII, mà một cuốn sách mới xuất bản gọi Ngài là Giáo Hòang của Hitler, là nó làm lưu truyền cái huyền thọai rằng: chính Giáo Hội Công Giáo, chứ không phải người Hồi Giáo cực đoan, đã là và vẫn còn là nguồn gốc nổi bật nhất gây ra phong trào chống Do Thái trong thế giới hiện đại.

    Tuy nhiên, theo nhận định của Gabriel Schoenfeld trong cuốn sách của ông “The Return of Anti-Semitism” (San Francisco: Encounter Books), một sự kiện không thể chối cải được, đó là chính trong thế giới Hồi Giáo, chứ không phải Kitô giáo, “mà truyền thống chống Do Thái thời xưa cũng như thời nay vẫn hợp nhất lại để phát sinh ra lòng thù hận người Do Thái”. Rất nhiều học giả và các nhà trí thức, các nhà lãnh đạo Cộng đồng của người Do Thái đồng ý điều đó. Abraham H. Foxman thuộc ‘Hiệp Hội Chống Phỉ Báng’ đã xác quyết: “Sự việc là phong trào chống Do Thái cuồng nhiệt đang lan tràn khắp nơi trong khối Ả-rập Trung Đông… Phong Trào Chống Do Thái được cả nhà cầm quyền Ả-rập bao dung hoặc công khai yểm trợ, được các phương tiện truyền thông Ả-rập loan truyền, được dạy tại các Trường Trung Học, Đại Học Hồi Giáo, và được rao giảng tại các Hội Đường Hồi Giáo (Mosques). Không một thành phần nào trong xã hội Hồi Giáo không bị tiêm nhiễm tư tưởng chống Do Thái.

    Phong trào chống Do Thái đã ăn rễ sâu xa và trở nên mạnh mẽ hơn do sự cộng tác của những người Hồi Giáo cự đoan với Đức Quốc Xã….

    Sự liên kết giữa những người Hồi Giáo cực đoan với Hitler trong thời chiến đã đem lại những hậu quả kéo dài trong thế giới Ả-rập. Những hậu quả đó đã đảo ngược lại những gì Giáo Hội Công Giáo đã làm trong Thế chiến II. Nói một cách thẳng thắn ra là: trong khi Đức Piô XII cố gắng cứu vớt những người Do Thái, thì Hajj Amin an-Husseini , viên Đại Phán Quan Hồi Giáo lúc đó ở Giêrusalem, lại ủng hộ ‘Giải Pháp cuối cùng’ của Hitler.

    Ngày nay, sau hơn 60 năm cuộc Tàn Sát, người chuyên gây hấn và là kẻ biện hộ cho Hitler, Hajj Amin an-Husseini, phải được nhớ lại và nhận diện ra rõ ràng hơn. Chính ông, chứ không phải ĐGH Piô XII, là một Giáo Sĩ nguy hiểm nhất trong lịch sử cận đại (theo nhận định của John Carwell). Chủ trương chống Do Thái cực đoan của Ông nguy hiểm trong Thế chiến II cũng như cho ngày nay. Trong thời gian ở Berlin, Ông đã gặp riêng Hitler nhiều lần khác nhau và đã công khai và nhắc đi nhắc lại nhiều lần lời kêu gọi hãy hủy diệt người Do Thái tại Âu Châu. Ông là kẻ hợp tác đắc lực nhất với chế độ Đức Quốc Xã. Nói Ông ta là người của Hitler thì đúng lắm rồi; còn nói ĐGH Piô XII là Giáo Hòang của Hitler thì chỉ là câu chuyện ngụy tạo!

    Thuộc dòng dõi một gia đình Palestine giàu có và nhiều quyền lực, Hajj Amin an-Husseini sinh ra tại Jerusalem năm 1893. Ông trở nên kẻ sôi nổi chuyên nghiệp chống Do Thái kể từ ngày 04-04-1920. Hồi đó, Ông và những kẻ tùy tùng đã bị khích động bởi những lời tuyên truyền khích động chống Do Thái, nên đã tìm cách tàn sát người Do Thái và cướp các tiệm buôn bán của người Do Thái. Ngày 28-3-1929, Ông chỉ huy cuộc tàn sát 60 người Do Thái ở Hebron; rồi ít ngày sau tiến hành cuộc tàn sát ờ Safad gây cho 45 người Do Thái bị giết.


    Suốt thập niên 1930, Ông tiếp tục gây nên phong trào bài Do Thái ở Palestine, và tìm cách làm quen với phong trào Đức Quốc Xã của Hitler. Cuối tháng 3 năm 1933, ít lâu sau khi Hitler lên cầm quyền, Ông đến gặp ông Đại Sứ Tòan Quyền của Đức Quốc Xã ở Giêrusalem, tiến sĩ Heinrich Wolff, và xin cộng tác. Mục đích của Ông, như Ông đã nhiều lần cắt nghĩa cho các sĩ quan Đức, là nhằm thật xa và thật rộng rãi. Nhưng mục đích gần là chống lại và chấm dứt phong trào lập cư của người Do Thái tại Palestine. Rồi xa hơn nữa là hình thành trong thế giới Ả-rập cũng như trong thế giới Hồi Giáo, một cuộc thánh chiến của Hồi Giáo liên kết với Đức Quốc Xã để tận diệt người Do Thái và giải quyết dứt khóat vấn đề Do Thái ở khắp nơi trên thế giới.


    Vào ngày 28-11-1941, Ông đã gặp Hitler lần đầu, rồi tiếp theo nhiều lần khác. Lúc đó những kẻ tuyên truyền cho chế độ Đức Quốc Xã miêu tả Ông như một nhà lãnh đạo tinh thần của cả Hồi Giáo. Theo sứ giả Kenneth R. Timmerman, liên minh vừa phát sinh giữa Hồi Giáo và Đức Quốc Xã do Ông dựng nên cùng với Hitler, đã đánh dấu cuộc khởi đầu làm cho phong trào Đức Quốc Xã chống Do Thái thành một phong trào quần chúng tràn vào thế giới Ả-rập; rồi dưới sự lãnh đạo của Ông và môn đệ của Ông là Yasser Arafat, phong trào đó đã tiếp nối cho đến ngày nay. Cũng theo sứ giả Kenneth R. Timmerman, mối liên hệ mật thiết của Ông với Hitler và việc Ông nhiệt thành ủng hộ “giải pháp cuối cùng” của Hitler, đã dệt nên mạng lưới chống Do Thái kéo dài từ quá khứ cho đến ngày nay. Nếu ngày nay phong trào Hồi Giáo chống Do Thái đã phát triển thành một cây cành lá xum xoe, thì rễ của nó đã được nuôi dưỡng trong chế độ Đệ Tam Đức Quốc Xã của Hitler.


    Trong suốt Thế chiến II, al-Husseini đã xuất hiện đều đều trên làn sóng phát thanh của Đức hướng về Trung Đông. Hơn nữa, trong suốt thời gian Đức Quốc Xã chiếm đóng Rôma, ĐGH Piô XII đã cứu thóat nhiều ngàn người Do Thái khỏi phải đưa đi trại Auschwitz và che dấu họ trong các Nhà Dòng ở Rôma, thì al-Husseni đã dùng làn sóng phát thanh của Đức Quốc Xã để kêu gọi hãy tận diệt người Do Thái ở Âu Châu: “Hãy giết bọn Do Thái bất cứ ở đâu bạn gặp được; điều đó làm đẹp lòng Allah, lịch sử và tôn giáo”.

    *

    * *

    Mối Liên Hệ giữa Do Thái Giáo và Công Giáo trong thời hiện đại:

    Trái với al-Husseni và chủ thuyết cực đoan chống Do Thái của Ông, ĐGH Gioan Phaolô II lại phát triển triết thuyết “Do Thái truyền thống” trong thời gian Giáo Hòang của Ngài. Ông George Weigel nhận định như sau: Từ khi được bầu chọn vào ngôi vị Giáo Hòang vào năm 1978, Đức Gioan Phaolô II đã bỏ nhiều công sức để thiết lập cuộc đối thọai giữ Công giáo và Do Thái giáo. Buổi đẩu gặp gở với các đại diện của Cộng đồng người Do Thái ở Rôma vào ngày 12/3/1979, Đức Gioan Phaolô II đã lưu ý rằng: “Hai Cộng Đồng tôn giáo chúng ta có liên hệ và sự liên lạc chặt chẻ ngay ở căn tính tương đồng của nhau”. Cuộc đối thọai giữa Do Thái giáo và Công giáo, nhìn theo quan điểm của người Công giáo, là một bổn phận tôn giáo.

    Suốt thập niên 1980, Đức Gioan Phaolô II đã mạnh mẻ kết án những hành động khủng bố nhằm vào các Hội đường Do Thái và Cộng Đồng Do Thái ở Vienna và Rôma. Ngài cũng luôn lên án phong trào bài Do Thái ở Âu Châu. Trong khi đó các nhà lãnh đạo khác ở Âu Châu lại không muốn có lập trường chống lại sự nổi dậy của phong trào Hồi Giáo chống Do Thái, phong trào này là một phần trong chương trình “Hồi Giáo hóa Âu Châu”. Điều này đặc biệt đúng tại Pháp là nơi những người theo Hồi Giáo chiếm tỷ lệ khỏang 10% dân số Pháp.

    Thực ra Đức Gioan Phaolô II là người thừa kế tinh thần của Đức Piô XII. Những kẻ chỉ trích vô lối thái độ mà họ gán cho là chống Do Thái của Đức Piô XII và Gioan Phalô II, lại ít dám kết án những cuộc bạo động chống Do Thái tại Isarel, tại Pháp và các nơi khác; những cuộc bạo động này đã xảy ra thực sự và có nhiều tài liệu đã ghi lại, thế mà họ đã chẳng dám lê án gì cả.

    Ngày nay, 60 năm sau “cuộc Tàn sát người Do Thái”, cần phải ghi nhớ rằng: trái ngược với truyền thuyết được phổ biến rộng rãi do các kẻ chỉ trích các Đức Giáo Hòang một cách bừa bãi gây nên, chính những nhà lãnh đạo Hồi giáo cực đoan và mạng lưới khủng bố của họ, chứ không phải là thời đại Giáo hòang hiện đại và các nhà lãnh đạo Công Giáo đương thời, đã đóng một vai trò lớn và cực đoan làm nổi dậy và phát triển phong trào chống Do Thái.

    Đức Gioan Phaolô II và Đức Piô XII là những người bạn rất chung thủy của người Do Thái. Vị Giáo Hòang kế vị Đức Gioan Phaolô II là Đức Bênêđíctô XVI cũng thế. Hồi còn là Hồng Y Joeph Ratzinger, Ngài đã viết: “Món Quà Giáng Sinh” là “Di sản của Abraham”. Ngài đã kết án cả những phong trào Kitô giáo chống Do thái, cũng như kết án “Cuộc Tàn Sát” người Do Thái của Đức Quốc Xã.

    Vào thời điểm này của năm 2005, cũng như vào thập niên 1930 và 1940, các vị Giáo Hòang đã và vẫn là những người bạn của người Do Thái. Những kẻ chối bỏ điều đó là chối bỏ lịch sử và tệ hại hơn nữa, họ lại tạo ra một tấm màn che dấu sự kiện chống Do Thái của thời đại chúng ta hôm nay.

    (XIN CHÚA THƯƠNG XÓT CHÚNG CON!

    XIN CHÚA NỐI KẾT CHÚNG CON NÊN MỘT TRONG TÌNH YÊU CHÚA!

    XIN CHÚA THƯƠNG BAN BÌNH AN CHO THẾ GIỚI CHÚNG CON!)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Monday, January 16, 2006

    VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN THEO TÔNG HUẤN ‘NGƯỜI KI-TÔ HỮU GIÁO DÂN’

    VÀO ĐỀ
    Công Đồng Vatican II đã xác định lại ơn gọi, phẩm giá, trách nhiệm và vai trò quan trọng của giáo dân trong Giáo hội cũng như trong trần thế. Công Đồng Vatican II cũng nhìn nhận sự đóng góp to lớn của giáo dân trong mọi hoạt động của Giáo Hội. Chính vì thế mà các Nghị Phụ Công Đồng nhấn mạnh, một cách hết sức rõ ràng và triệt để, đến tầm quan trọng của việc đào tạo giáo dân:

    “Giáo hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Am không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.

    Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Ki-tô giáo trưởng thành” (Sắc Lệnh Truyền Giáo, số 21).

    Chúng ta nên lưu ý là Công Đồng không nói đến một số giáo dân mà nói đến một hàng giáo dân đích thực, trưởng thành tức nói đến một đội ngũ, một tầng lớp thuộc thành phần đông đảo nhất của Giáo Hội là giáo dân.



    THẾ NÀO LÀ GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC hay TRƯỞNG THÀNH?

    1.- Chúng ta không cần đi sâu vào việc tìm ra một định nghĩa đầy đủ về người giáo dân đích thực hay trưởng thành. Chỉ cần chúng ta dựa vào cách suy nghĩ thông thường và phổ biến của mọi người để hiểu thế nào là người giáo dân đích thực hay trưởng thành.

    Hiểu một cách đơn giản, người giáo dân đích thực là người giáo dân sống đạo thật sự, chứ không chỉ sống đạo một cách hời hợt hình thức, càng không phải là người chỉ có cái tên là người có đạo. Tương tự như thế, người giáo dân trưởng thành là người giáo dân có sự hiểu biết tương đối về Đạo, có suy nghĩ chín chắn, có ý thức rõ rệt về vai trò chức năng ơn gọi của mình và tự mình có dấn thân cụ thể trong đời sống Đức Tin.

    2.- Trong đoạn văn trích dẫn từ Sắc Lệnh Truyền Giáo ở trên, các Nghị phụ Công Đồng đưa ra một tính chất khác bên cạnh tính “đích thực hay trưởng thành”. Đó là hàng giáo dân ấy phải có khả năng và điều kiện để cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm thì rõ ràng không phải chỉ là làm việc dưới sự lãnh đạo, chỉ huy hay điều khiển của hàng Giáo Phẩm, mà là cùng suy nghĩ và hành động với các chủ chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giê-su trao phó cho toàn Giáo hội.

    ĐỂ GIÁO HỘI CÓ HÀNG GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC hay TRƯỞNG THÀNH, THÌ …..

    Cha ông ta có câu:” Không thầy đố mày làm nên.” Còn người La Mã xưa có châm ngôn:”Không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet). Cả hai châm ngôn trên đều nói lên tầm quan trọng của việc học hỏi, rèn luyện. Ap dụng vào trường hợp người giáo dân, chúng ta có thể nói: Muốn hiểu biết về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và muốn biết cách chu toàn Ơn gọi và Sứ mạng ấy thì người giáo dân cần được học hỏi và đào luyện rất nhiều. Nói theo ngôn ngữ của Đức Gio-an Phao-lô II trong Tông Huấn Christifideles Laici tức “Người Ki-tô hữu giáo dân” (NKTHGD, số 45-49) thì mọi Ki-tô hữu (linh mục, tu sĩ, giáo dân), mọi người già trẻ lớn bé nam cũng như nữ, đều là những người thợ làm vườn nho của Thiên Chúa. Đã là thợ thì phải có trình độ tay nghề mới có thể đảm đương công việc của người thợ . Mà muốn có tay nghề thì phải học nghề. Học nghề chính là công việc đào tạo, huấn luyện! Vậy nếu Giáo hội muốn có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành thì đương nhiên Giáo hội phải quan tâm đến việc huấn luyện, đào tạo và đầu tư cách thích hợp vào công việc ấy.

    VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

    1. THẾ NÀO LÀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN?

    1.1 Tông huấn NKTHGD nói như sau về việc đào tạo giáo dân:

    ”Hình ảnh trong Tin Mừng về cây nho và các cành nho cho chúng ta thấy một khía cạnh nền tảng khác trong đời sống và sứ vụ của giáo dân: lời kêu gọi phải lớn lên, không ngừng trưởng thành và luôn luôn sinh hoa trái nhiều hơn” (số 57).

    Vậy đào tạo giáo dân là làm cho người tín hữu trở thành người giáo dân đích thực và trưởng thành. Nói cách khác là giúp người giáo dân hiểu biết đầy đủ về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo Hội và trong thế giới và đồng thời có khả năng đảm nhận Ơn gọi và Sứ mạng ấy một cách hiệu quả.

    1.2 Đối tượng của việc đào tạo ở đây là người giáo dân, chứ không phải các tu sinh hay chủng sinh. Thế có nghĩa là chúng ta phải xác định một số vấn đề như Giáo dân là ai? Giáo dân sống ở đâu? Giáo dân có ơn gọi và sứ mạng (chung và riêng) gì?

    2. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

    Trong Tông Huấn NKTHGD, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II nêu lên hai mục đích trong việc đào tạo giáo dân.

    2.1 Mục đích thứ nhất của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân trưởng thành hơn trong tiến trình nên giống Đức Ki-tô:

    “Các Nghị Phụ…diễn tả việc huấn luyện người giáo dân như một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Ki-tô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” (NKTHGD, số 57)

    2.2 Mục đích thứ hai của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân khám phá và sống ơn gọi và sứ vụ riêng của mình :

    “Việc huấn luyện giáo dân có mục tiêu nền tảng là giúp họ khám phá ra mỗi ngày mỗi rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân và luôn hết sức sẵn sàng chu toàn sứ vụ riêng của mình” (NKTHGD, số 58)

    3. HAI LÃNH VỰC & CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

    Cũng theo Tông huấn NKTHGD thì người giáo dân cần được đào tạo trong hai lãnh vực khác nhau: lãnh vực tổng quát và lãnh vực chuyên biệt. Vì có hai lãnh vực nên cũng cần phải có hai chương trình đào tạo khác nhau.

    3.1 Lãnh vực & chương trình tổng quát:

    Mọi người giáo dân phải được đào tạo trong lãnh vực và theo chương trình tổng quát này. Ở đây người giáo dân được đào tạo về những nền tảng cơ bản của đời sống Đức Tin, gồm nhiều mặt: nhân bản, tâm linh, kiến thức, ý thức thái độ và kỹ năng.

    1) Về mặt nhân bản, Người giáo dân được đào tạo để:

    a) Trở thành một con người hoàn thiện về mặt nhân bản, với những đức tính hướng thiện, công bằng, yêu thương, nhân ái, vị tha, thanh liêm chính trực, trọng chữ tín, trọng của công, có tinh thần trách nhiệm,

    b) Nhạy bén với các vấn đề xã hội, có tình liên đới với những người chung quanh.

    2) Về mặt tâm linh, Người giáo dân được đào tạo để:

    a) Trở thành một Ki-tô hữu xác tín và dấn thân,

    b) Phát triển đời sống cầu nguyện và tình thân với Đức Giê-su, với Thiên Chúa:

    ”Mỗi người được mời gọi để không ngừng lớn lên trong tình thân mật với Đức Giê- su, với Thiên Chúa…”

    c) Tinh luyện động cơ làm việc và phục vụ, nhất là đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo cộng đoàn,

    d) Biết qui chiếu đời sống Đức Tin vào Đức Ki-tô và xây dựng đời sống trên nền tảng Lời Chúa,

    đ) Biết hội nhập Văn Hoá và Đức Tin một cách hài hòa.

    3) Về mặt kiến thức, Người giáo dân được đào tạo để:

    a) Có một hiểu biết thông thạo về Giáo Lý, Thánh Kinh, Thần Học, Công Đồng,

    b) Có một kiến thức tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, môi sinh và các phương tiện thông tin đại chúng. Ở đây phải dành một chỗ hết sức quan trọng cho việc học hỏi về Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội.

    4) Về mặt ý thức và thái độ, Người giáo dân được đào tạo để có:

    a) Ý thức trách nhiệm xã hội,

    b) Ý thức các mối tương quan cộng đoàn và dành ưu tiên cho việc xây dựng cộng đoàn, cho cách làm việc chung, làm việc ê-kíp, nhóm,

    c) Thái độ khiêm tốn phục vụ, chiasẻ, giúp đỡ người khác.

    5) Về mặt kỹ năng, Người giáo dân được đào tạo để:

    a) Biết linh hoạt một nhóm nhỏ hay một cộng đoàn lớn,

    b) Biết mời gọi, thuyết phục và ảnh hưởng trên người khác,

    c) Biết hướng dẫn các buổi cử hành, nghi thức, cầu nguyện,

    d) Biết điều hành các buổi hội họp thảo luận hay chia sẻ,

    đ) Biết cách giải quyết các xung đột,

    e) Biết truyền thông cho người khác,

    g) Biết lên kế hoạch, thực hiện và lượng giá việc thực hiện kế hoạch.

    3.2 Lãnh vực chuyên biệt:

    Đối với một số giáo dân có Ơn gọi và Sứ mạng riêng như các Giáo Lý viên, Linh Hoạt Viên các cộng đoàn, Hội viên Hội Đoàn Công Giáo Tiến Hành, Thành viên Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, các Tông Đồ Giáo Dân, những người làm việc Từ Thiện, những người dấn thân trong lãnh vực nghề nghiệp, chính trị….. thì ngoài chương trình huấn luyện chung cho mọi giáo dân, họ cần có một chương trình đào tạo riêng. Gọi chương trình ấy gọi là chương trình huấn luyện chuyên biệt, vì nhằm đáp ứng các nhu cầu, ơn gọi và sứ vụ riêng biệt của từng hạng người: Ví dụ các Giáo Lý Viên thì phải có sự hiểu biết và kỹ năng về Sư Phạm Giáo Lý, Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ thì phải có hiểu biết và kỹ năng về lãnh đạo tập thể, Tông Đồ Giáo Dân thì phải có hiểu biết về giá trị các tôn giáo không Ki-tô giáo và phải có nghệ thuật tâm lý trong giao tiếp v.v…

    Nhưng điều tối quan trọng mà Đức Gioan Phaolo II nhấn mạnh trong Tông huấn NKTHGD là việc đào tạo phải toàn diện để có một đời sống thống nhất:

    “ Trong cuộc sống không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là ‘thiêng liêng’, với những giá trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống ‘trần thế’, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Ki-tô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thật vậy, tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là “môi trường lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giê-su Ki-tô, nhằm vinh quang Chúa Cha để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi sự dấn thân cụ thể –chẵng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để ‘không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến” (NKTHGD số 59; HCVMvHV số 43; SLTG số 21; LBTM số 20).

    4. PHƯƠNG PHÁP & PHƯƠNG THẾ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

    Giáo hội luôn quan tâm tới những khám phá và tiến bộ của con người trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực giáo dục, nên Giáo hội sẽ hết sức chú trọng đến việc đem các tiến bộ tốt đẹp ấy ứng dụng vào trong công việc giáo dục của mình. Vì thế mà trong công cuộc đào tạo giáo dân của mình, Giáo hội xử dụng nhiều phương pháp thích hợp và có giá trị, như:

    1- Trau đồi kiến thức phải đi đôi với thực hành.

    2- Giúp giáo dân tự đào tạo mình.

    3- Đào tạo giáo dân qua cử hành Phụng Vụ, Bí Tích.

    4- Đào tạo giáo dân bằng các Lớp, các Khóa Học Hỏi ngắn và dài ngày,

    5- Đào tạo giáo dân qua các Hội đoàn Công Giáo Tiến Hành,

    6- Bồi dưỡng giáo dân qua các Hội Nghị, các đợt Tĩnh Tâm.

    6. THỜI GIAN & MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

    Hẳn nhiên là công cuộc đào tạo giáo dân như thế thì không thể có điểm dừng, nghĩa là không bao giờ có thể nói là đã hoàn thành. Từ bé tới lớn, từ trẻ tới già luôn luôn là thời gian đào tạo.

    Còn môi trường đào tạo thì chính là trong Giáo Hội từ gia đình cho đến giáo xứ, giáo phận, cho đến giáo hội toàn cầu. Trong các môi trường ấy phải kể đến các trường công giáo (từ tiểu đến trung và đại học) và các môi trường hội đoàn (xem số 61-62).

    5. NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

    Nói cho đến cùng, thì chính Thiên Chúa là Đấng Đào Tạo các Ki-tô hữu giáo dân cũng như giáo sĩ. Và chỉ một mình Đức Giê-su Ki-tô là Thầy, là Sư Phụ dậy dỗ và rèn luyện mọi người nên con cái Thiên Chúa, nên giống Ngài (Thầy nào trò nấy). (KTHGD số 61). Nhưng Thiên Chúa và Đức Ki-tô cũng đã giao trách nhiệm đào tạo ấy cho các Tông Đồ và đặc biệt là Tông Đồ Trưởng Phê-rô.

    Vì thế Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám Mục là những người được Thiên Chúa giao phó công việc giáo dục đào tạo mọi thành phần Dân Chúa trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình: Đức Giáo Hoàng thì trong phạm vi Giáo hội toàn cầu, các Giám Mục thì trong phạm vi Giáo hội địa phương là giáo phận. Tông huấn khẳng định:

    “Công cuộc giáo dục trước hết là công việc của Giáo hội toàn cầu. Đức Giáo Hoàng giữ vai trò người giáo dục đầu tiên của giáo dân. Là người kế vị thánh Phê-rô, ngài cũng có sứ mệnh “củng cố anh em mình trong đức Tin” bằng cách dạy dỗ tất cả mọi tín hữu những yếu tố thiết yếu trong ơn gọi cũng như sứ vụ của Ki-tô giáo và Giáo hội. Không chỉ những lời do chính ngài đã loan báo, nhưng cả những gì được trình bày trong các văn kiện của các cơ quan khác nhau của Toà Thánh đều cần được người giáo dân lắng nghe với lòng tuân phục kính yêu” (NKTHGD số 61)

    “Tại mỗi giáo hội địa phương vị Giám mục có một trách nhiệm cá nhân đối với giáo dân. Ngài phải huấn luyện họ bằng cách loan báo Lời Chúa, cử hành phụng vụ Thánh Thể và các Bí Tích, làm sinh động và hướng dẫn đời sống Ki-tô hữu” (NKTHGD số 61).

    Trên thực tế các Giám Mục thực hiện công việc quan trọng ấy bằng nhiều cách: thăm viếng, khuyên nhủ, giảng dậy trực tiếp hay gián tiếp tức qua các phương tiện truyền thông xã hội như thư từ, báo chí, sách vở, tài liệu và qua các cộng tác viên sống động là các linh mục. Cho nên sau giám mục thì các linh mục nhất là các linh mục chánh xứ là người có trách nhiệm chính trong việc đào tạo huấn luyện giáo dân, vì như Tông huấn xác định:

    “Giáo xứ giữ một vai trò thiết yếu trong việc huấn luyện cách trực tiếp hơn với từng giáo dân. Thực vậy giáo xứ có điều kiện dễ dàng để đến với riêng từng người, từng nhóm nên giáo xứ được kêu gọi đào tạo các phần tử của mình biết lắng nghe Lời Chúa, biết đối thoại với Chúa trong cử hành phụng vụ cũng như cầu nguyện riêng, biết sống bác ái huynh đệ, và đồng thời giáo xứ còn phải cho họ thấy được một cách trực tiếp và cụ thể, ý nghĩa của sự hiệp thông trong Giáo hội và của trách vụ Truyền Giáo” (NKTHGD số 61).

    Các Tu Sĩ cũng có trách nhiệm tham gia một cách nào đó vào công việc đào tạo này, vì tu sĩ cũng là thành phần Dân Chúa, mà đã là thành phần Dân Chúa thì không ai không có trách nhiệm xây dựng Thân Thể Huyền Nhiệm của Chúa Ki-tô là Giáo hội.

    Sau cùng việc đào tạo hàng giáo dân trưởng thành còn là trách nhiệm của chính người giáo dân, nhất là của những người làm cha làm mẹ, làm huynh trưởng các phong trào giáo dân, các bậc đàn anh đàn chị trong các hội đoàn, tổ chức công giáo tiến hành. Trong một số trường hợp thiếu linh mục hoặc các linh mục quá bận với công việc mục vụ hoặc các linh mục lơ là với việc đào tạo giáo dân, thì trách nhiệm đào tạo giáo dân của hàng giáo dân càng nặng nề và cấp bách hơn.

    VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY

    Không ai chối cãi được rằng Giáo hội Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm trong công tác đào tạo giáo dân (cũng như giáo sĩ, tu sĩ). Hàng Giáo Phẩm Việt Nam (tức các Giám Mục người Việt) mới ra đời cách đây có 40 năm, tức vào năm 1960. Vào thời điểm ấy đất nước còn bị chia đôi, khiến việc xây dựng Giáo Hội không dễ dàng gì. Nếu Công Đồng Vatican đến với Giáo hội Việt Nam thì cũng chỉ đến một cách rất giới hạn, một nửa Miền Bắc không có Nghị Phụ nào đi dự Công Đồng, một nửa Miền Nam sống trong chiến tranh, bất ổn.

    Hoà bình lập lại trên toàn cõi Việt Nam năm 1975 nhưng mãi tới năm 1980 Giáo hội Việt Nam mới có Hội Nghị Hội Đồng Giám Mục thống nhất. Lá Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ra đời sau Hội Nghị lịch sử này và là một cột mốc hết sức quan trọng. Từ 20 năm nay (1980-2000) tuy Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có hội nghị thường niên, nhưng còn rất nhiều lãnh vực mà các Giám mục chưa thực hiện hay chưa có quyền thực hiện. Chúng ta cứ nhìn vào cách tổ chức và các cơ cấu hiện nay của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì chúng ta thấy rõ khoảng trống mênh mông cần chóng được lấp đầy trong thời gian ngắn nhất.

    Đi sâu vào thực tế, chúng ta phải nhìn nhận là Giáo Hội Việt Nam mới chỉ có Chương Trình Giáo Lý Xưng Tội Rước Lễ, Thêm Sức và Bao Đồng (hay còn gọi là Rước Lễ Trọng Thể) và Chuẩn Bị Hôn Nhân. Mà cũng chưa hẳn là chương trình thống nhất từ giáo phận này đến giáo phận khác. Ngay một Uy Ban Giáo Lý nhiều giáo phận cũng chưa có, huống chi nói đến Uỷ Ban Giáo Lý toàn quốc. Chúng ta cũng chưa phục hồi được các Trung Tâm Huấn Giáo đã có trước 1954 (Miền Bắc) và trước 1975 (Miền Nam), chưa có các Chương Trình và Trung Tâm Đào Tạo cao hơn, chuyên hơn cho giáo dân. Những nỗ lực trong 20 năm qua của Hàng Giám Mục là khôi phục các Đại Chủng Viện, một vài Học viện Liên Dòng. Đó cũng là lẽ bình thường, vì hàng giáo sĩ là “con ngươi” trong con mắt Giáo hội mà! Với giáo dân thì dù nhu cầu có cấp bách đến mấy, dường như chúng ta còn phải nghe lời nhắn nhủ này “Hãy đợi đấy!”

    Trong thời gian gần đây có một vài tín hiệu đáng mừng xuất hiện ở một số nơi, như việc hình thành Uy Ban Mục Vụ Giáo Dân, Trung Tâm Mục Vụ Giáo phận. Nhưng phải nói là tiến độ còn rất chậm và gặp không ít khó khăn từ chủ quan (thiếu người chuyên môn, thiếu sự quan tâm của những người có trách nhiệm chính, thiếu kinh phí) đến khách quan (thiếu sự hiểu biết và tin tưởng của phía xã hội). Nhưng nếu thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ III là của giáo dân, thì chúng ta có quyền ngồi chờ không? Chúng ta có biết và có tìm cách biết xem ở bên cạnh và xung quanh chúng ta, các Giáo Hội Á châu khác đang nỗ lực như thế nào trong công cuộc đào tạo giáo dân không? Chúng ta có thể học được gì, cậy nhờ gì ở các Giáo hội chị em ấy không? Hay chúng ta thích theo chính sách “tự bế quan toả cảng” để khỏi phải vất vả?

    Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến,

    Xin Ngài hãy đến để đổi mới Giáo Hội Việt Nam là Cộng Đoàn của Ngài và do Ngài xây dựng bằng máu đào của 117 Thánh Tử Đạo, của Chân Phước Anrê Phú Yên và của hàng ngàn hàng vạn Kitô hữu đã hy sinh mạng sống vì Phúc Am trên mảnh đất thân thương này. Amen!!!

    Gs. Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tuesday, December 13, 2005

    Lịch sử bài hát: “Đêm Thánh Vô Cùng”

    Lịch sử bài thánh ca nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng bắt đầu từ đêm vọng Giáng Sinh năm 1818 tại một ngôi làng nhỏ bé vùng đồi núi Orbendorf, nước Áo.

    Linh mục Josef Mohr, cha xứ của giáo xứ Saint Nicholas, đã sáng tác một bài thơ ngắn đặt đề tựa là <<Đêm Thánh>>, ngài muốn phổ nhạc để hát trong thánh lễ nữa đêm.

    Nhưng cha xứ lại không phải là một nhạc sĩ. Vì thế mà ngài đã nhờ đến người bạn của ngài, Ông Franz Gruber, giáo viên và cũng là nhạc sĩ rất hợp với ngài để phổ nhạc bài thơ đơn sơ này. Franz Gruber là người đàn phong cầm tại giáo xứ. Tuy nhiên, ông lại soạn bài hát cho đàn guitar với bài thơ Đêm Thánh của vị bạn cha xứ tại Saint Nicholas Orbendorf. Và rồi bài hát nổi tiếng Đêm Thánh Vô Cùng ấy đã được hát lần đầu tiên trong đêm 24 tháng 12 năm 1818.

    Kể từ đó bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng tự nhận danh hiệu là một bài hát gây ấn tượng nhất cho đêm thánh giáng sinh hài nhi Ki-tô.

    Dẫu rằng tin hay không, người ta cũng không thể không rung động trước nét đẹp và đặc biệt là nét sâu sắc của bài hát đã lan rộng khắp địa cầu.

    Bài Đêm Thánh Vô Cùng đã được chuyển ngữ sang nhiều thứ tiếng trên hoàn vũ. Người ta còn hát với tiếng Et-ki-mô và với thổ ngữ ban-tu ở Phi Châu. Không có một âm hưởng nào, đời hay đạo, được quốc tế biết tới nhiều như bài thánh ca giáng sinh khiêm nhu này của Áo quốc.

    Xuyên qua lịch sử Ki-tô giáo, bài thánh ca Đêm Thánh Vô Cùng đã trở thành một biểu tượng chân thực cho mầu nhiệm sâu kín đêm Thiên Chúa giáng trần của người tín hữu Ki-tô.

    Thực tế, có chăng một đêm êm dịu hơn cái đêm được nhìn thấy một hài nhi hạ sinh lại đặt vào trong một máng cỏ nơi chuồng súc vật, trong khi đó các thú gia cầm quen thuộc như bò và lừa lại thổi hơi cho ấm hài nhi? Chuyện hoang đường hay sự thật? Thật không quan trọng; mà trọng điểm là đã khơi động niềm xúc cảm cho nhân loại.

    Thật khá lý thú, khi mà hầu hết các âm hưởng nhạc Giáng sinh truyền thống đều bị mai một hay chuyển đỗi, trong khi âm hưởng của bản Stille Nacht vẫn lưu giữ được nguyên vẽ trong sáng về hình thức và cách cấu trúc.

    Sự kiện gây chú ý là bài Đêm Thánh Vô Cùng từ nguồn gốc Ki-tô giáo đã được các tôn giáo khác đón nhận. Có nơi tại Á Châu còn hát bài này ngay cả trong những đền Chùa Phật giáo…

    Người ta kể lại rằng trong thế chiến thứ hai, Đức và Mỹ đã đồng ý với nhau có một cuộc hưu chiến trong đêm Giáng Sinh để binh sĩ cùng tham dự thánh lễ nữa đêm, hôm đó đã hát lên bài Đêm Thánh Vô Cùng.

    Cũng là một đêm bao trùm huyền nhiệm mà ba vì vua –hay còn gọi là vương tử- cất bước từ Đông Phương tìm đến thăm viếng do một vì sao lạ xuất hiện báo hiệu sự hạ sinh của một hài nhi mà sau này trở thành vì vua của hoàn vũ. Nơi đây nữa, là huyền thoại hay thực tế? Các chiêm tinh gia xác nhận ngôi sao lạ ấy đã thực tế mọc và chiếu rọi xuống Bê-lem…

    Đức tin của người Ki-tô hữu xuất phát từ các biến cố ấy và vì thế trãi qua từ bao thế kỷ người ta đã cử hành kỷ niệm sự hạ sinh của hài nhi trong mọi thánh đường trên thế giới.

    Do từ đó, không ngạc nhiên gì một bài hát thật đơn sơ như Đêm Thánh Vô Cùng lại gây vô cùng xúc động đã chinh phục được thế giới. Điểm nổi bật hơn hết là so với âm điệu của các bài thánh ca Noel khác, bài ĐTVC tiêu biểu cho đêm hạ sinh một hài nhi-Thiên Chúa, đến với nhân trần.

    NVH chuyển dịch
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Monday, December 05, 2005

    Mầu nhiệm Mẹ Maria

    Mầu nhiệm Mẹ Maria
    Bùi Văn Phú, Nov 30, 2005

    Đức Mẹ nhỏ lệ máu ở Sacramento,
    California (ảnh: Bùi Văn Phú, 11.2005)

    Cali Today News - Trong những tuần qua một vài biến cố mang tính tôn giáo, tâm linh xảy ra đã làm xôn xao trong lòng người công giáo Việt Nam trong cũng như ngoài nước.

    Thứ Ba vừa rồi, trước sân nhà thờ chính tòa Hà Nội có thánh lễ truyền chức cho 57 linh mục Việt Nam dưới sự chủ phong của Hồng y Crescenzio Sepe, Bộ Trưởng Bộ Truyền Giáo Vatican. Nhiều nghìn người, có những tín hữu đến từ tỉnh xa, đã ngủ ở lề đường, chờ đến sáng để làm những con chiên đầu tiên trong hàng dân chúng được tham dự một thánh lễ trọng đại của người Thiên Chúa Giáo. Đây là một biến cố tôn giáo quan trọng cho giáo hội công giáo và nhà nước Việt Nam, vì từ khi cộng sản nắm quyền quan hệ giữa nhà nước cộng sản vô thần và Vatican đã bị cắt đứt và quan hệ giữa giáo hội và nhà nước là những thử thách căng thẳng. Sau tháng 4.1975, đại diện ngoại giao của Toà Thánh ở Sàigòn bị đuổi đi, nhiều linh mục bị giam cầm, tài sản, trường học của giáo hội bị tịch thu.

    Buổi lễ thụ phong cho hàng loạt linh mục được sự chủ tế của hồng y đại diện Toà Thánh là dấu chỉ Việt Nam muốn cải thiện hơn quan hệ với Vatican, một tiến trình đã được khởi xướng từ triều đại cố Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II. Giáo Hoàng Bênidictô XVI đương thời cũng bày tỏ ý muốn có quan hệ với những nước cộng sản còn lại như Việt Nam và Trung Quốc.

    Đúng một tháng trước đây người dân Sàigòn xôn xao với hiện tượng Đức Mẹ khóc. Tháng Mười dương lịch mà người công giáo gọi là Tháng Mân Côi, tháng dành riêng đọc kinh cầu nguyện khấn xin Đức Mẹ Maria ban phước, che chở cho đoàn con chiên của Mẹ. Hàng chục nghìn người đã đổ về quảng trường trước Vương Cung Thánh Đường Sàigòn chiêm nghiệm sự lạ, đọc kinh cầu nguyện. Dù một linh mục quốc doanh trông coi thánh đường đã vội tuyên bố hiện tượng Mẹ Maria chảy lệ là chuyện dị đoan, nhưng đối với nhiều người có đức tin thì họ cho đó là dấu chỉ Mẹ khóc thương đàn chiên và giáo hội Việt Nam của Mẹ còn đang gặp khó khăn, thử thách.

    Lòng sùng kính Đức Mẹ của người công giáo Việt Nam trong quá khứ, khi còn có những tự do sinh hoạt, được thể hiện qua những chương trình phụng vụ và sống đạo vào Tháng Hoa, tháng Năm, và Tháng Mân Côi với những cuộc rước kiệu, dâng hoa, những chương trình đón Đức Mẹ về từng gia đình để tôn vương. Trong dịp Đức Mẹ Fatima Thánh Du, khoảng năm 73 hay 74, nhiều chục nghìn tín hữu đã tụ họp ở những nơi trước Vương Cung Thánh Đường Sàigòn và tại nhà thờ quân đội Đồng Tiến để cung nghinh Đức Mẹ. Từ đó đến nay, dịp lễ thụ phong linh mục vừa qua tại Hà Nội là một sinh hoạt tôn giáo rầm rộ nhất của giáo hội Thiên Chúa Giáo tại Việt Nam kể từ ngày đất nước Việt Nam được thống nhất vào năm 1975.
    Những năm gần đây nhà nước đã cho phép sinh hoạt tôn giáo được mở rộng hơn và người công giáo lại thể hiện niềm tin vững vàng vào Mẹ Maria hơn bao giờ hết. Thánh Địa La Vang ở Quảng Trị đã được tu sửa, hằng năm đón cả trăm nghìn con chiên về hành hương. Giáo Hoàng Gioan-Phaolô II lúc sinh thời là một người rất sùng kính Mẹ Maria và tin rằng nhờ Mẹ che chở nên ngài đã thoát chết khi bị ám sát năm 1981. Nhân dịp kỷ niệm 200 năm ngày Đức Mẹ hiện ra (1798-1998) ngài đã có ước nguyện đến La Vang để cùng đoàn chiên Việt Nam cầu nguyện, nhưng lúc đó quan hệ với Việt Nam còn căng thẳng nên chuyến tông du của ngài không thực hiện được.

    Đối với những người công giáo Việt Nam ở hải ngoại, truyền thống tôn vinh Mẹ Maria còn được duy trì trong nhiều giáo xứ, cộng đoàn. Tượng Đức Mẹ La Vang đã được đặt trong Vương Cung Thánh Đường Đức Mẹ Vô Nhiễm Nguyên Tội ở thủ đô Washington và trong nhiều giáo đường khác ở Hoa Kỳ.

    Hai tuần trước có hiện tượng Đức Mẹ nhỏ huyết lệ trong khuôn viên Giáo Xứ Các Thánh Tử Đạo Việt Nam ở một khu hẻo lánh thuộc ngoại ô thủ phủ Sacramento, bang California. Sau khi tin về hiện tượng này được các đài truyền hình Hoa Kỳ loan tải, mỗi ngày có hàng trăm người thuộc nhiều sắc dân đến cầu nguyện, thắp nến, dâng hoa.

    Đức Mẹ nhỏ lệ máu ở Sacramento,
    California (ảnh: Bùi Văn Phú, 11.2005)

    Theo lời kể của một bà cụ gốc Tam Kỳ, Quảng Nam, hiện là giáo dân của họ đạo, thì khi được báo tin Đức Mẹ nhỏ lệ máu, cha chính xứ Nguyễn Ngọc Ban có nói với giáo dân là hãy lau đi, nếu đó là phép lạ thì Mẹ sẽ tiếp tục khóc. Nhưng một số tín hữu không đồng ý, muốn để nguyên những giọt máu chảy xuống từ mắt trái của Đức Mẹ. Một cụ ông, gốc Kiến An và là người đã cảm nghiệm được điềm báo trước của Đức Mẹ trong chuyến di cư vào nam sau hiệp định Genève 1954, thì cho đây là điềm báo sự chẳng lành sắp xảy đến cho nhân loại, có thể là dịch cúm gà, chiến tranh hay động đất.

    Người không tin cho rằng đây chỉ là một trò đùa vì ban chấp hành cộng đoàn và giáo dân người Việt đang phân chia về việc có nên dọn ngôi thánh đường đã được người Việt trong vùng xây dựng nên từ 17 năm qua và đã trải qua nhiều tranh chấp, đến một địa điểm mới, gần thành phố hơn không.

    Trước những hiện tượng về Đức Mẹ ở Sàigòn và ở Sacramento, các bậc phẩm trật giáo hội luôn luôn dè dặt. Còn đối với giáo hữu, những hiện tượng đó có phải là điều siêu nhiên thuộc về thần quyền thì tùy vào lòng tin của mỗi người.
    Dù có phải là phép lạ hay không, nhưng ở cả hai nơi, cách nhau nửa quả địa cầu, nhiều người đã đến đọc kinh cầu nguyện chứng tỏ tín hữu Thiên Chúa Giáo khắp nơi luôn tỏ lòng sùng kính Mẹ Maria vì quá khứ kinh qua bao gian khổ, nhiều lời cầu xin đã được Mẹ đoái thương đến.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?