Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Monday, February 28, 2005

CHIẾC QUẦN CỦA CHA XỨ

Một hôm trên đường trở về nhà xứ, vị linh mục già của thị trấn Pi-các-đi ( Picardie ), vừa đi vừa đọc thầm kinh nhật tụng. Có hai viên sĩ quan trẻ cũng về chung đường. Khi rảo bước ngang qua, cả hai đều tỏ ý mỉa mai chế nhạo ông cha đạo vì từ lâu họ đã mất niềm tin nơi Giáo Hội Công giáo. Sẵn đang vui chuyện, họ tiếp tục chủ đề chỉ trích các tu sĩ, mặc kệ ông cha xứ già bị bỏ rơi lại phía sau một đoạn khá xa. Chợt có một người hành khất ngồi bên vệ đường lên tiếng: “Các anh ơi, xin giúp kẻ nghèo này với.” Nghe vậy, một trong hai sĩ quan trẻ lục túi tìm cho người ăn mày mấy đồng bạc, trong khi anh kia cũng chợt nẩy ra một ý. Anh nói với bạn: “Ông cha già hồi nãy thế nào cũng sẽ đi ngang qua đây. Tôi dám cá độ với anh là ông ta sẽ chẳng thí cho lão ăn mày này đến một xu ! Cái bọn tu sĩ đạo đức giả ấy chỉ thích làm phúc trước đám đông mà thôi. Không tin thì ta cứ rình ở đây mà xem !” Cả hai nhất trí trốn vào một bụi cây gần đó...

Ít phút sau, quả nhiên vị linh mục già chậm rãi đi tới. Ngài đứng lại nhìn người hành khất, đưa tay lục hết túi trên túi dưới, rồi hết sức ái ngại nói với ông ta: “Ông bạn đáng thương ơi, rất tiếc là ta chẳng có lấy một xu dính túi để chia sẻ cho ông bạn...”

Anh lính trong bụi nghe thế thì rúc rích cười: “Đấy, anh thấy chưa ? Tôi nói có sai đâu !” Trong khi ấy, người ăn mày lại tiếp tục nài van, xin vị linh mục rộng lượng bố thí, còn ngài thì tỏ ra áy náy bứt rứt vì bó tay. Chợt, ngài nhìn kỹ bộ quần áo rách tả tơi của người ăn mày, động lòng trắc ẩn, suy nghĩ một thoáng rồi ngài bảo ông ta, giọng vui hẳn lên: “Ông bạn đợi ta một chút nhé, ta sẽ trở lại ngay !”

Dứt lời, ngài nhìn trước trông sau rồi chui tọt vào bụi cây ngay cạnh chỗ hai anh sĩ quan đang núp. Loay hoay một hồi rồi ngài lại bước ra, ngài ân cần đưa cho người ăn xin chiếc quần dài đã cuốn gọn lại: ”Đây, ông bạn hãy cầm đỡ chiếc quần của ta nhé, tuy nó hơi cũ, lại đang mặc dở, nhưng có lẽ nó cũng giúp phần nào cho ông bạn. Nhớ đừng có kể cho ai nghe đấy. Nếu có định cám ơn ta thì ông bạn cứ cầu nguyện với Chúa cho ta một điều tốt lành gì đó cũng được. Thôi ta đi nhé...” Vị linh mục quản xứ già xốc lại chiếc áo chùng thâm cho ngay ngắn, tay lại mở trang sách Các Giờ Kinh Phụng Vụ đang đọc dở dang rồi tiếp tục đoạn đường...

Hôm sau, có hai người khách lạ tìm đến bấm chuông nhà xứ rất sớm. Vị linh mục già nhận lời ra ngồi tòa giải tội ngay. Và tất cả đầu đuôi câu chuyện đã được lần lượt thuật lại từ miệng hai anh sĩ quan trẻ tuổi ngày hôm qua, lòng hối hận, dạ chân thành ăn năn. Cha xứ ngẩn ngơ thốt lên: “Ôi Thiên Chúa nhân lành, chỉ với một chiếc quần cũ của con mà Ngài đã đem về cho con những hai linh hồn sao ?”

Theo lời kể của Đức Ông DE SÉGUR.
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • NHỮNG LÁ THƯ CỦA MẸ

    Tại một trường nội trú dành cho nam sinh trung học, có một thiếu niên tên là Bốp Len-nu ( Bop Lennoux ). Khác hẳn các bạn, em chưa bao giờ nhận được một lá thư nào của gia đình, lý do vì cha mẹ em đã ly thân sau những bất hòa gay gắt, hơn nữa, họ cũng chẳng quan tâm gì đến con cái, gửi được Bốp vào nội trú là coi như họ đã yên tâm, đường ai nấy đi, việc ai nấy làm...

    Thật tội nghiệp cho Bốp, chiều nào em cũng nhanh chân chạy ra đón cậu học sinh phụ trách việc phân phát thư tín, để rồi sau đó Bốp lại tiu nghỉu quay vào giữa những tiếng nói cười hân hoan của bạn bè mới nhận được thư nhà. Cứ thế, đã gần nửa năm học, Bốp vẫn trông ngóng một cách tuyết vọng...

    Thế rồi đến một hôm, cậu bạn thân nhất của Bốp tên là Lô-renx ( Lawrence ), một thiếu niên may mắn có được một gia đình thuận hòa hạnh phúc, cậu bé vừa nhận được thư của mẹ, cậu quay sang bên cạnh thì bắt gặp ánh mắt tủi thân của Bốp. Lô-renx buột miệng nói: “Bốp này, tụi mình về phòng của tớ đi, hai đứa sẽ cùng đọc thư của mẹ tớ nhé !” Thế là hai cậu bé trong nháy mắt đã ngồi sát bên nhau, chụm đầu đọc thật to thật rõ từng chữ trong lá thư như thể các em mẫu giáo đang đánh vần, cả hai khuôn mặt cùng ánh lên nét rạng rỡ hồn nhiên...

    Hôm sau, khi ra chỗ phát thư, Bốp lại hỏi Lô-renx: “Cậu lại có thư của mẹ nữa à ?” Lô-renx lắc đầu: “Không, hôm nay là thư của chị hai tớ !” Bốp có vẻ buồn buồn, em quay sang hỏi một bạn khác: “Thế còn bạn, bạn có nhận được thư của mẹ bạn không ?” May sao, đúng là cậu bé ấy đang cầm trên tay lá thư của mẹ cậu thật. Bốp rụt rè hỏi: “Bạn có thể cho mình được đọc chung lá thư này với bạn không ?”. Cậu bạn này tuy không thân với Bốp lắm, nhưng cũng rộng rãi tốt bụng nên đồng ý ngay. Cậu ta nhanh tay bóc phong bì và bắt đầu đọc to nội dung lá thư cho Bốp, cho Lô-renx và cho cả các bạn khác đứng gần đó cùng nghe...

    Thế là từ hôm ấy, bộn trẻ trong lớp bắt đầu có thói quen là hễ ai mới nhận được thư của mẹ gửi đến thì đều rủ Bốp cùng đọc chung như một chuyện thường tình hết sức tự nhiên. Một thời gian sau, Bốp đã quen miệng hỏi các bạn mỗi buổi chiều chạy ra nhận thư: “Hôm nay tụi mình có thư của mẹ không ?” Và Lô-renx cũng như các bạn khác đều trả lời không một chút do dự: “Có, hôm nay tụi mình có một lá đây !”

    Câu chuyện đến tai thầy giáo chủ nhiệm là thầy Giô Hác-grô-vơ ( Joe Hargrove ). Thầy để ý về hiện tượng Bốp được các bạn quan tâm một cách tế nhị và cởi mở dễ thương. Ông quyết định âm thầm và khéo léo tham gia vào “phong trào” này bằng cách soạn ra và cho đánh máy 6 bức thư khác nhau, bỏ vào 6 chiếc phong bì dán sẵn tem, đề tên Bốp và địa chỉ trường trung học. Ông đem gửi bưu điện tất cả trong một bao thư lớn kèm theo một lá thư đề nghị bà Len-nu chỉ cần ký tên dưới bên dưới câu “mẹ yêu dấu của con” rồi cứ mỗi tuần nhớ gửi về trường cho Bốp một lá...

    Gần một tháng sau, đúng vào lúc mà Bốp đã không còn tin rằng mình sẽ nhận được thư, nên chỉ còn chú ý đến thư của các bạn, thì chợt chiều hôm ấy, cậu học sinh trực phát thư reo lên: “Ồ, các bạn ơi, có thư cho Bốp đây, có thư cho Bốp đây !” Bốp sững sờ, tròn xoe đôi mắt ngây thơ, run run đưa hai tay đỡ lấy lá thư như thể một thiên thần bé nhỏ đang cầu nguyện. Em buột miệng la lớn: “Ôi các bạn ơi, đúng là tên tớ rồi. Tớ cũng có thư đây, mà lại là thư của mẹ tớ nữa đấy ! Anh em ơi, có ai muốn nghe đọc thư của mẹ tớ không nào ?”

    Cuộc phát thư dừng hẳn ngay lại. Bọn trẻ nhanh chóng bu lại công kênh Bốp cho đứng lên mặt một chiếc bàn, rồi trong giây lát, tất cả đều lặng thinh như chờ đợi một điều gì hết sức thiêng liêng. Bốp bắt đầu đọc lá thư: “Con cưng mẹ”, chỉ mới có thế thôi là em đã nghẹn ngào rồi òa khóc. Lô-renx vội leo lên đỡ lấy lá thư và đọc thay cho bạn. Lúc ấy không một ai để ý rằng còn có thêm một người nữa cũng đang xúc động đến rướm lệ, đó là thầy Giô Hác-grô-vơ đang đứng khuất ở một góc phòng...

    Thời gian qua đi, ngày bãi trường đã gần đến, Bốp nhận thư của mẹ báo tin sẽ đến dự buổi lễ phát thưởng cho những học sinh xuất sắc toàn trường, trong đó có tên Bốp, Lô-renx và một số bạn thân của em. Điều biến đổi lạ thường đã âm thầm diễn ra trong gia đình của Bốp Len-nu. Sau loạt thư 6 cái của thầy giáo Giô Hác-grô-vơ thì bà Len-nu đã không còn dửng dưng được nữa, bà đã tự tay viết thư cho con mình đều đặn gần như là mỗi ngày.

    Và quả thật, như một phép lạ, khi người ta biết quan tâm đến người khác thì cũng là lúc người ta bắt đầu bớt xung khắc với nhau. Cha mẹ của Bốp khi cùng hồi tâm nhớ đến đứa con trai ngoan ngoãn dễ thương của mình, họ đã dần dần hàn gắn được mối bất hòa bấy lâu nay. Cả hai vợ chồng đã trở về đoàn tụ với nhau trong niềm hạnh phúc dành cho nhau và nhất là dành cho Bốp yêu dấu...

    Trong những tháng chót của năm học, Bốp đã hãnh diện khoe và đọc to lên cho các bạn thư của cả cha và mẹ của mình. Bốp đang từ thứ hạng trung bình, đã dần dần vượt lên nhất nhì trong lớp. Và thế là mùa nghỉ hè năm nay, Bốp sẽ được cha mẹ đến đón về với gia đình, tận hưởng những ngày nghỉ ngơi vui chơi dưới mái ấm của một gia đình hạnh phúc...

    Nào có ai ngờ một tâm hồn trẻ thơ và cả một hoàn cảnh gia đình đã được biến đổi thật kỳ diệu như thế, tất cả chỉ được khởi đi bằng một thái độ, một cử chỉ, một hành động nhỏ bé phát xuất từ lòng yêu thương, từ sự quan tâm đến nhau của cậu bé Lô-renx, của các em học chung một lớp với Bốp, và nhất là của cả một tấm lòng nhà giáo tận tụy như thầy Giô Hác-grô-vơ...
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • HẠNH PHÚC TRONG VƯỜN DƯA

    Đoản văn dưới đây của tác giả Y-a-sha Kê-man ( Yashar Kemal ). Sinh năm 1923, ông là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất của nền văn học hiện đại Thổ Nhĩ Kỳ.

    Hạnh phúc là gì vậy ? Vậy mà chưa bao giờ nhân loại ngừng tự hỏi và ngừng kiên trì theo đuổi hạnh phúc.

    Khoảng năm 14 tuổi, tôi tìm được một chân giữ vườn dưa hấu, và đó là công việc tôi đã làm trong suốt nhiều năm sau đó. Một buổi sớm mai nọ, từ chiếc giường ngủ kê trong một căn chòi ngay tại vườn dưa, tôi đã thức dậy trong làn gió mát thổi nhè nhẹ. Xa xa ở phương đông, vượt lên trên một đỉnh núi mang tên Đun-đun ( Duldul ) là ngôi Sao Mai sáng lấp lánh đến diệu kỳ. Tất cả những cảnh đẹp thiên nhiên này đem đến cho tôi một niềm sảng khoái chạy lan khắp cơ thể. Tôi có cảm giác như mình đang tan loãng vào trong buổi sáng, phiêu diêu, bay bổng...

    Rất lâu sau đó, tôi vẫn giữ được thói quen dậy sớm lúc bình minh, cố đánh thức lại cái cảm giác lâng lâng của buổi sáng ngày hôm đó. Tôi vẫn nghe hơi thở dịu dàng của cơn gió mát nhưng không bao giờ còn tìm lại được nỗi hân hoan của lần đầu tiên...

    Cũng từ buổi sáng tuyệt vời ấy, trong tôi đã tràn ngập niềm vui, và khi không thể nào tìm lại được khoảnh khắc đó nữa, tôi cứ cố gắng để chúng tiếp diễn nhiều lần, và chỉ thế thôi cũng đủ làm tôi vui sướng qua nhiều năm tháng.

    Lớn lên, khi đã trưởng thành, tôi tập lái máy cày. Những người nông dân chúng tôi bắt đầu làm việc rất sớm để tránh cái nắng gắt giữa trưa. Được hít thở mùi thơm của đất mới vỡ, hòa với cái mùi hăng hăng của dầu máy, một lần nữa, tôi lại được nếm trải một niềm phấn khích lạ kỳ.

    Ngắm một bông hoa nở, nhìn một chú ong với đôi cánh mỏng lóng lánh dưới ánh mặt trời, có được cái bắt tay ấm áp của một tình bạn chân thành, cảm nhận hương thơm từ mái tóc một người con gái... tất cả đều đem đến hạnh phúc. Tôi muốn nói hạnh phúc chính là niềm vui, nhưng không phải hoàn toàn chỉ có thế, có một cái gì đó trên cả niềm vui, một cảm giác khó diễn tả mà chúng ta cả đời theo đuổi. Mỗi một thời đại, con người lại có một cách thức riêng trong việc mưu tìm hạnh phúc. Có lẽ mãi mãi sẽ là như thế...
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • TẤM LƯNG CHE CHỞ ĐỜI TÔI

    Tôi được sinh ra tại một ngôi làng bé nhỏ ở tỉnh Quảng Nam, khi cuộc chiến tranh Pháp – Việt bắt đầu khốc liệt. Những năm tháng đầu đời tôi đã sống trong tiếng bom đạn, trong cảnh nhà cháy và tiếng khóc la hãi hùng. Cứ mỗi buổi sáng, cha phải cõng tôi trên vai sang một làng khác để xa tầm đạn của đồn binh Pháp.

    Tôi không thể nào quên cái hôm cha cõng tôi lội qua sông. Bởi vì hôm ấy, lính Pháp đã lùng sục vào đúng ngôi làng mà cha con tôi đang tạm lánh. Cha tôi quyết định lội qua con sông cái để được an toàn hơn. Cha cõng tôi trên vai và bơi ếch chầm chậm qua sông. Vừa bơi cha tôi vừa nói: “Con bu cho chặt nghe !” Câu nói ấy cứ lập đi lập lại nhiều lần để tôi khỏi ngủ. Có lẽ lúc ấy cha sợ tôi rơi khỏi sự đùm bọc che chở của mình...

    Trong nhiều năm như thế, với bao nhiêu cực nhọc, bao nhiêu cay đắng trong chiến tranh, tôi dần dần lớn lên trong đôi tay và “chiếc nôi” lưng của cha... Mấy mươi năm sau, giờ đây, tôi không còn nơi để bu để bám chặt vào, khi tôi đã rơi xuống giòng sông cuộc đời với biết bao nhiêu thác ghềnh mà chỉ có một mình tôi bơi lội bương trải...

    Tôi quên làm sao được hình ảnh cha tôi đêm đêm vẫn ngồi cạnh chiếc giường của mấy anh em tôi. Chiếc giường ấy, cha tôi đã đóng một đầu cao một đầu thấp, phía đầu thấp được cha đặt ở ngay miệng hầm tránh đạn. Cha mẹ tôi cứ thế thay phiên nhau canh chừng. Mỗi khi nghe tiếng bắn “đề-pa” ( départ ) của súng đại bác, lập tức cha tôi chống chiếc giường lên để anh em tôi tuột thẳng vào hầm bằng hai tấm ván. Xong xuôi, cha tôi vẫn ở lại ngoài miệng hầm, như thể muốn lấy thân mình mà ngăn cản chống đỡ đạn bom và phủ che chúng tôi được bình an vô sự...

    Tôi cũng chẳng thể nào quên được những chữ mà cha đã dạy tôi trong những năm tháng khốc liệt ấy. Để tôi biết đọc biết viết, cha lấy một miếng ván có kích thước chỉ bằng quyển vở, đem bào nhẵn và sơn màu đen bằng khói đèn trộn với lá rau lang giã nhuyễn. Mỗi ngày, dù ở lại nhà hay phải theo cha chạy giặc thì tôi vẫn học được một mẫu tự. Sáng dậy, cha tôi “phóng” một chữ lên tấm bảng, rồi buộc tôi cứ mỗi lần viết theo là lại đọc to cho cả nhà nghe. Cứ vậy, chỉ trong vòng hai năm, tôi đã đọc, đã viết thông thạo và làm được bốn phép tính.

    Cho đến hôm nay, theo đuổi nghề dạy học đã gần ba mươi năm, tôi vẫn ao ước phải chi được một lần gặp lại cha để tôi có thể bày tỏ tình cảm của một đứa con, một đứa học trò. Ôi người cha nhân từ, người thầy mẫu mực đã che chở, đã dạy dỗ con trong những ngày tháng cơ cực xa xưa...
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • CÂY GIẺ CỦA CUỘC ĐỜI

    Một ông lão khôn ngoan biết mình sắp chết, cho họp toàn thể con cháu lại để có những lời khuyên cuối cùng. Cụ đã kết thúc các giáo huấn bằng một lời căn dặn khác thường như sau:

    “Sau khi cha chết, các con chớ có theo truyền thống mà đốn đi cây giẻ ( cây fayard ) của cha đã trồng được gần 90 năm qua trong vườn của nhà mình. Các con phải biết rằng chính nó đã giúp cha biết sống đạo hạnh suốt cả cuộc đời đã qua của cha đấy...”

    Theo tập tục lâu đời của giòng họ này, mỗi khi có một đứa trẻmới chào đời thì chính tay người cha sẽ trồng một cây giẻ còn non vào một góc vườn đã dành sẵn. Cứ thế, sự sống của cây giẻ sẽ gắn liền với cuộc đời đứa bé. Và cuối cùng, người ta sẽ chỉ chặt cây khi chủ nhân của nó nhắm mắt lìa đời...

    Từ năm lên 10, ông lão thuở ấy còn là một cậu bé, đã hết lòng yêu mến cây giẻ của mình. Trên vỏ cây nhẵn thín của nó, ông đã khắc những ngày tháng đáng ghi nhớ: ngày sinh, ngày rước lễ lần đầu, ngày được thêm sức, ngày gia nhập quân đội, ngày cưới, người có đứa con đầu lòng... Trong những buổi chiều đẹp mùa hè, niềm vui thú nhất của ông là đến ngồi hồi lâu dưới bóng cây. Chính nơi đây, ông thường đối chiếu đời sống của ông với đời sống của cây giẻ...

    Và rồi ông đã ngẫm ra được một điều là: nhựa sống đang tràn trề nuôi dưỡng cây giẻ cũng chính là bao ân sủng Thiên Chúa đã và vẫn còn đang ban tặng cho ông, những lá cây tươi xanh chính là những ước mơ hoài bão đầy thiện chí, những trù tính tốt đẹp để xây đắp tương lai đời ông. Những kỳ lá úa rơi rụng vào mùa thu hằng năm gợi lại cho ông những yếu đuối, những thất vọng chán chường, và cả những thay đổi của lòng dạ con người ông. Rồi mùa đông trở về, cây giẻ lại nhắc nhở ông đến cái chết về thể xác và cả cái chết về phần linh hồn...

    Cứ thế mà mối tương giao dễ thương giữa ông và cây giẻ ấy đã nâng đỡ dẫn dắt con đường đời của ông luôn luôn đi đúng hướng mà Thiên Chúa mong muốn. Cứ sau những biến cố xảy đến và qua đi trong đời, lòng yêu mến gắn bó của ông với cây giẻ lại càng thêm sâu xa...

    Và đến hôm nay thì ông sắp ra đi, nhưng ông vẫn muốn cây giẻ còn đó để nhắc nhớ cho con cháu, cho mọi người về ý nghĩa thế nào là một cuộc sống chan hòa tình yêu thương quan phòng của Thiên Chúa.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • SỐNG THẬT SỰ CHO NƯỚC TRỜI

    Một cụ già đã sống đến 82 tuổi, đến khi thấy mình không còn sống thêm được bao lâu nữa, cụ dặn con cháu hãy khắc vào tấm bia trên ngôi mộ mình một hàng chữ: NƠI ĐÂY AN NGHỈ MỘT CỤ GIÀ VỪA TRÒN 80 CỘNG VỚI 2 TUỔI ĐỜI THẬT SỰ ! Ai cũng thắc mắc vì sao lại ghi lạ lùng như thế, cụ mới thuật lại rằng:

    “Tôi đã trải qua cả một cuộc đời dài suốt 80 năm hoàn toàn xa rời, thậm chí, ngược hẳn với nếp sống Tin Mừng mà Thiên Chúa đã mời gọi. Bây giờ thì tuổi già đã tràn đến như sóng thủy triều, tôi đã sức tàn lực kiệt, phải ngồi một chỗ, cũng may mà đầu óc tôi còn khá minh mẫn để đơn độc một mình hồi tưởng về dĩ vãng. Và vào một hôm cách đây hơn 2 năm, tôi đã có cơ may trở về với chính mình và nghiêm túc tự hỏi: Mình đã từ đâu mà đến trong cuộc đời trần gian này ? Rồi mai đây mình sẽ đi về đâu ? Những điều tôi đã làm được trong cả đời sẽ còn lại gì khi tôi nhắm mắt xuôi tay ?

    Và thế là từng ngày lặng lẽ trôi qua, đời sống của tôi như khúc phim chiếu chậm đã từ từ hiện ra trong trí nhớ già nua bằng tất cả sự thật của nó. Tôi nhận ra rằng tôi đã phí phạm cả đời mình, nó chỉ còn để lại cho tôi những lỗi lầm với Thiên Chúa và với vợ con, với mọi người chung quanh !

    Chính những suy nghĩ này đã đánh động lòng tôi và giúp tôi kịp thời quay về với nếp sống gần gũi với Tin Mừng, một nếp sống chọn lấy niềm Tin, Cậy, Mến đối với Thiên Chúa làm kim chỉ nam và tình yêu thương chân thành đối với tha nhân làm hơi thở.

    Và với tâm tình như thế tôi đã sống đến hôm nay được hơn 2 năm. Tôi vui mừng thật sự bởi vì 2 năm ấy chính là 2 năm tôi đã sống trọn vẹn cho Nước Trời...”
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • CHA TÔI

    Dưới đây là lời chia sẻ chân thành của một bạn trẻ người Trung Hoa về chính người cha ruột của mình. Bài viết được đăng trong tạp chí Độc Giả Văn Trích...


    Tôi rất sợ người khác trông thấy tôi đi cùng với cha tôi, chính là vì ông bị thọt chân, mà người lại thấp bé, khi bước cứ phải vịn vào cánh tay tôi. Thật khó khăn lắm chúng tôi mới giữ được nhịp bước. Ông bước đi, vừa tập tễnh, lại vừa xiêu vẹo, khiến tôi rất là bực mình. Do vậy, dọc đường tôi và cha tôi rất ít khi trò chuyện. Lần nào cha cũng nói: “Con cứ đi đi, cha sẽ theo kịp bước chân con mà...”

    Quãng đường chúng tôi đi thường là từ nhà đến ga xe điện ngầm và ngược lại. Cha tôi đi làm. Dù tật nguyền, cha tôi vẫn đi làm. Những lúc thời tiết khắc nghiệt, ngay đến người bình thường cũng không thể ra ngoài, thì bằng mọi cách, ông vẫn đến được công sở, và ông thấy tự hào vì điều ấy.

    Những lúc băng tuyết ngập trời, cha mới chịu ngồi vào chiếc xe trượt tuyết trẻ con cho chị gái tôi hoặc tôi đẩy qua con đường băng tuyết. Đến nơi, tay ông vịn vào lan can ở nhà ga, từng bước lần xuống các bậc thang vào đường hầm xe điện, cho đến khi tới được chỗ không còn tuyết đổ dầy, ông mới buông tay ra. Cũng may là sở làm của ông nằm ngay trạm dừng của xe điện, cho nên ông không phải đi đâu ra ngoài xa xôi cho đến khi có người lại đón về.
    Bây giờ nghĩ lại, tôi không khỏi ngạc nhiên, phải là một người có nghị lực ghê gờm lắm mới có thể chịu đựng được gánh nặng công ăn việc làm trong một hoàn cảnh gian nan như thế. Mà tôi lại còn ngạc nhiên hơn nữa khi cha tôi lúc nào cũng vẫn vui vẻ, không một lời than thân trách phận.

    Cha tôi không hề tự ti trước mặt người khác, cũng không hề đố kỵ khi thấy người khác may mắn hơn mình. Ông chỉ chú ý có một điều duy nhất: người ta có hảo tâm hay không ? Sau này, càng trưởng thành, tôi lại càng tin rằng hảo tâm chính là tiêu chuẩn thích đáng của mỗi con người, cho dù rốt cục, tôi cũng chưa thật sự hiểu rõ hảo tâm là thế nào. Tôi chỉ mang máng nhận ra nơi mình đôi lúc đã thiếu vắng thứ hảo tâm ấy.

    Có một số việc cha tôi không làm được, thế nhưng ông vẫn gắng tham dự bằng nhiều cách. Đội bóng chày nghiệp dư thiếu người hướng dẫn thì ông đã tình nguyện đích thân làm huấn luyện viên ngay bởi kiến thức của ông về môn thể thao này phải nói là hết sức phong phú. Ông cũng thích các buổi vũ hội nhưng đành chịu, chỉ ngồi xem một chỗ và tự tìm thấy niềm vui cho riêng mình.

    Một lần, người ta tổ chức đấu vật trên bãi biển, cha tôi không thể đứng một mình trên cát, lại chẳng chịu ngồi yên xem cuộc đấu, thế là ông vẫy tay gọi mọi người: “Này, có ai dám ngồi xuống đây đấu tay đôi với tôi không nhỉ ?” Tuy nhiên, chẳng có ai thèm ngó ngàng đến cha tôi, có khi họ còn chế nhạo rằng ông là một đấu thủ chưa cần đấu đã thua trận rồi ! Mãi đến bây giờ tôi mới hiểu được cha tôi đã khắc phục được khuyết tật chính là qua các hoạt động và trò chơi ấy.

    Khi tôi gia nhập lực lượng hải quân, một lần được về phép, cha tôi dẫn tôi vào cơ quan và hãnh diện giới thiệu với các bạn đồng nghiệp: “Đây là con trai của tôi, cũng chính là bản thân tôi đấy ! Giá như không bị tật ở chân, tôi cũng đã có thể được như nó hôm nay...”

    Bây giờ thì cha tôi đã không còn nữa, ông mất đã khá lâu nhưng tôi thì vẫn không thể quên không nghĩ đến ông. Tôi không rõ là ông có hiểu rằng hồi đó tôi rất ngại không muốn người ta nhìn thấy cảnh tôi phải dìu cha tôi tập tễnh bước đi. Tôi vô cùng ân hận và nuối tiếc vì không còn cơ hội để nói một lời xin lỗi với cha tôi nữa...

    Cứ mỗi lần trong lòng tôi chợt thấy ghen tỵ với niềm hạnh phúc hay sự may mắn của người khác là tôi lại sực nghĩ ngay đến cha tôi. Lúc ấy, giá như có cha tôi bên cạnh, tôi sẽ níu lấy cánh tay của ông đã giữ vững bước đi của chính tôi. Và chắc chắn là tôi sẽ nói với cha tôi rằng: “Cha ơi, cha cứ đi đi, con sẽ cố gắng theo kịp bước chân cha...”
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • THÁNH LỄ CUỐI CÙNG

    Sau thế chiến thứ hai, có một tài liệu được công bố ở Đức, mang tên Những Bức Thư Từ Xta-lin-grát ( Stalingrad ). Đây là những bức thư được chở trên chuyến phi cơ Đức cuối cùng rời thành phố Xta-lin-grát. Khi phần thất bại đã chuyển hẳn về phía quân xâm lăng phát-xít Đức, vì sợ nội dung các lá thư có thể làm suy giảm tinh thần ở hậu phương, nên Hít-le ( Hitler ) đã ra lệnh tịch thu tất cả, nhưng chưa kịp đem hủy đi mà còn sót lại trong số các văn thư lưu trữ tại thủ đô Béc-lin ( Berlin ).

    Tác giả các lá thư đều là các binh lính Đức quốc xã đã hầu như tuyệt vọng, chỉ còn chờ chết hoặc bị hồng quân Liên-xô bắt làm tù binh. Họ cố gắng viết những giòn chữ cuối cùng cho thân quyến. Trong các lá thư đó, người ta đọc được một trang nhật ký của một linh mục tuyên úy người Đức mô tả quang cảnh lễ Giáng Sinh năm ấy, một lễ Giáng Sinh có lẽ là cuối cùng trong đời của những người dự lễ ngay tại chiến trường lửa và máu. Bức thư thuật lại như sau:

    “Đêm trước lễ Giáng Sinh, có 11 chiến hữu Công giáo đã mừng ngày sinh Đức Giê-su trong một căn lều còn tương đối lành lặn. Thật không dễ gì mà tìm được một nhóm tín hữu đích thật như họ ở giữa những kẻ vô vọng của cuộc chiến. Họ được tôi liên lạc mời tới tham dự Thánh Lễ. Trên cõi địa cầu bao la này có rất nhiều bàn thờ, nhưng chắc hẳn không ở đâu lại có chiếc bàn thờ nghèo nàn hơn ở đây. Mới hôm qua, đó là một chiếc thùng đựng những viên đạn đại bác phòng không, thì hôm nay, tôi trải lên trên mặt thùng chiếc áo lót màu trắng còn sạch sẽ của một anh lính.

    Tôi đọc một đoạn trích trong Tin Mừng theo thánh Lu-ca. Tôi cho họ rước Mình Máu Thánh Chúa dưới hình thức những mẩu bánh mì đen, là khẩu phần nhỏ bé và cuối cùng của họ trong ngày.

    Tôi đã khẩn cầu cho họ được ơn tha thứ và đón nhận lượng từ bi của Thiên Chúa chúng ta. Họ ngồi trên những mảnh ván, mắt họ ngước nhìn tôi... Ngoài kia, bom đạn vẫn đang nổ rền...

    Trích bài giảng Mùa Chay của cha BERNARD BRO,
    NIỀM CẬY TRÔNG BẤT CHẤP TUYỆT VỌNG.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?