Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Friday, March 25, 2005

TẤM BÁNH

Trong tập “108 Chuyện Hay Cực Ngắn”, tác giả Lý Thanh Thảo đã viết câu chuyện “Anh Hai” tuy ngắn nhưng rất ý nghĩa, có nội dung như sau :
Ngày kia, có chiếc xe hơi bóng loáng đậu bên đường. Trong xe, người mẹ đang dỗ dành đúa con trai ăn chiếc bánh kem. Đứa bé con nhà giàu không biết giận dỗi điều gì, đã hất văng chiếc bánh kem qua cửa xe, rơi xuống đường, sát mép cống. Sau đó chiếc xe hơi rồ máy chạy đi.
Có 2 đứa trẻ đang moi rác gần đó, thấy chiếc bánh rơi xuống đất liền chạy tới lượm lên. Chiếc bánh lấm láp bụi cát, đứa con gái nuốt nước miếng bảo thằng con trai :
- Anh Hai thổi sạch đi rồi mình ăn.
Thằng anh phùng má thổi. Đứa em sốt ruột cũng ghé miệng thổi tiếp. Chính cái miệng háu đói của nó đã làm chiếc bánh rơi tõm xuống cái cống hôi hám và chìm hẳn. Con bé thút thít khóc, bảo anh nó :
- Ai bảo Anh Hai thổi chi cho mạnh.
Thằng anh dỗ em :
- Ừ ! Tại anh. Nhưng kem còn dính tay nè ! Cho em ba ngón, anh chỉ liếm hai ngón thôi.
Câu chuyện vừa “buồn cười”, vừa đau xót. “Buồn cười” vì hình ảnh 2 anh em chia nhau 5 ngón tay dính kem. Đau xót vì ngày nay còn nhiều người nghèo đói quá. Chiếc bánh kem của người giàu dù đã rớt xuống đất cũng trở thành nỗi thèm khát của người nghèo.
Cái nghèo luôn đi đôi với cái đói. Cái nghèo dẫn con người đến cái đói. Khi đói, người ta đánh mất cả lòng tự trọng và phẩm giá của mình. Cái đói cũng còn có thể dẫn người ta tới cái chết, mất tình yêu thương và tạo nên hố sâu ngăn cách giữa người với người.
Ngày nay, xã hội mong muốn “xoá đói giảm nghèo”, người ta thao thức và trăn trở tìm kiếm lương thực nuôi sống con người. Sự nghèo đói vật chất quan trọng đến thế, sự nghèo đói tinh thần còn quan trọng đến đâu ?
Trong Năm Thánh Thể, chúng ta sốt sáng cử hành Lễ Tiệc Ly. Từ chiếc bánh kem, chúng ta suy nghĩ về tấm bánh Thánh Thể, tấm bánh của sự sống, tấm bánh tình yêu và cũng là tấm bánh hiệp thông.
Tấm bánh sự sống.
Những tấm bánh trong cuộc sống hàng ngày luôn là lương thực quen thuộc và cần thiết cho con người. Từ những chiếc bánh cao cấp trong những tủ kính lộng lẫy, những tấm bánh được dọn ra trong những bữa tiệc sang trọng, đến những chiếc bánh tầm thường trong những gánh hàng rong, hay trên bàn ăn của người nghèo, tất cả đều cho thấy bánh luôn có ý nghĩa to lớn đối với con người. Bánh là nhu cầu để con người sống và sinh tồn.
Ngoài sự sống thể xác còn có sự sống tâm hồn. Vì thế, Chúa đã hóa thân thành tấm bánh để không những trở nên gần gũi và đi vào sinh hoạt thường ngày của con người, nhưng Chúa trở thành tấm bánh còn để mời gọi con người lãnh nhận mà ăn, cho tâm hồn được sống và sống dồi dào. Chúa biến nên tấm bánh bị bẻ ra, bị tan biến, bị tiêu hóa để mang lại sự sống thần linh cho con người.
Tấm bánh tình yêu.
Để làm thành một chiếc bánh, người ta phải xay bột, nghiền nát, nhào nặn, rồi đem nướng hoặc nấu chín. Cũng vậy, để trở nên tấm bánh thần linh cho con người, Chúa cũng chịu nghiền nát, bị huỷ diệt nơi thập giá và cuộc tử nạn. Để trở thành tấm bánh nuôi dưỡng tâm hồn con người, Chúa chấp nhận chịu đau đớn, chịu huỷ hoại, chịu chết để con người được sống. Chúa đã làm tất cả những điều ấy chỉ để diễn tả một tình yêu vô cùng mãnh liệt dành cho con người.
Chúa không giữ lại gì cho mình. Nếu có giữ điều chi, chỉ là tình yêu tự hiến đến tột cùng. Chúa là tấm bánh mang dấu ấn tình yêu. Tấm bánh ấy biểu lộ rõ nét nhất một tình yêu đầy sáng kiến và thật lạ lùng.
Tấm bánh hiệp thông.
Bánh là lương thực để nuôi sống con người. Để trở thành chất bổ dưỡng cho thân xác, bánh phải được hòa tan vào từng mạch máu, từng thớ thịt con người. Chúa trở thành tấm bánh để biến tan trong máu thịt con người. Đó chính là sự kết hiệp sâu xa và độc đáo nhất khi Ngài bẻ tấm bánh đời mình trao hiến cho nhân loại (Bài đọc II).
Khi ngồi chung một bàn ăn hay cùng nhau chia đôi một chiếc bánh, người ta thường là bạn chí thiết của nhau. Chia bánh cho nhau là chia cho nhau tình cảm nồng ấm thiết tha (Bài Tin Mừng).
Chúa cũng là tấm bánh duy nhất được bẻ ra để con người chia sẻ cho nhau trong tình huynh đệ thắm thiết. Nói cách khác, khi cùng nhau chia sẻ một trấm bánh duy nhất là Đức Kitô, con người được quy tụ trong một Thân Mình là chính Ngài. Điều đó làm nên sự hiệp thông đẹp đẽ biết bao.
Hôm nay, thánh lễ Tiệc Ly còn gợi nên ý nghĩa sâu xa và cao đẹp của bữa tiệc tình yêu. Trong bữa tiệc ấy, không những Chúa lập bí tích Thánh Thể khi hóa thân thành tấm bánh trao hiến cho con người, Ngài còn lập chức Linh Mục để tấm bánh tình yêu ấy luôn được bẻ ra cho đến tận cùng thế giới. Bàn tay nối tiếp bàn tay cho đi, nhờ vậy, tấm bánh ấy mãi mãi được bẻ ra trong suốt cuộc hành trình trần thế của Giáo Hội.
Trong bữa tiệc tình yêu hôm nay, Chúa còn thực hiện một cử chỉ thật lạ lùng : Ngài cúi xuống rửa chân cho các môn đệ. Chúa Giêsu đã yêu thương các môn đệ “đến cùng”. Sự tận cùng của tình yêu đã được Ngài thực hiện qua việc trở nên tấm bánh tình yêu nuôi sống nhân loại. Nhưng dường như tình yêu ấy còn ẩn giấu và đầy bí nhiệm. Vì vậy, Chúa cúi xuống rửa chân cho các môn đệ để biểu lộ tình yêu rõ ràng hơn, qua hành động cụ thể bên ngoài : Chúa rửa chân cho các môn đệ như người nô lệ rửa chân cho chủ mình. Cũng qua hành động táo bạo của tình yêu tận cùng đó, Chúa cũng dạy các môn đệ : hãy biết thương yêu nhau “đến cùng” : hãy biết cúi xuống rửa chân cho nhau.
Trước đây có một bộ phim diễn lại thảm họa hai triệu người dân miền Bắc chết đói năm Ất Dậu 1945. Trong phim có cảnh thật đau thương : vì người chết đói la liệt đầy đường xá, người ta phải dùng những chiếc xe lôi đem xác chết đi chôn tập thể. Có người phu kia kéo xác đi chôn. Khi đến miệng hố chôn tập thể, bỗng ông ta nghe thấy có tiếng người rên rỉ giữa những cái xác trên xe : “Bác ơi, tôi còn sống !”. Thì ra có một người còn thoi thóp sống giữa những tử thi. Chẳng nói chẳng rằng, người phu kéo xe vẫn đổ ập những cái xác xuống hố. Người chết đói quá nhiều, đến nỗi người ta chẳng còn quan tâm đến việc còn sống hay đã chết. Họ chôn cả người còn đang sống.
Ngày nay, có lẽ không còn cảnh chết đói khủng khiếp như thế, nhưng vẫn còn đó rất nhiều tâm hồn đang chết đói tình yêu.
Sống bí tích Thánh Thể là gì, nếu không phải là đem tình yêu thương đến cho anh em mình ?
LM PHẠM VĂN LÝ (lớp PIOX)
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Sứ Điệp Ngọn Nến Lm Giuse Phạm Văn Lý

    Hình ảnh cây nến rất gần gũi và thân quen với con người trong cuộc sống hàng ngày. Ngọn nến lung linh trên bàn thờ. Ngọn nến rực rỡ trên chiếc bánh trong ngày mừng sinh nhật. Ngọn nến nhỏ giọt u buồn trên nắp quan tài trong ngày mai táng. Ngọn nến reo vui trong ngày cưới của đôi tân hôn. Ngọn nến tỏa sáng niềm vui trong chiếc lồng đèn đêm trung thu. Ngọn nến thắp lên trong các nghi lễ phụng tự, trong các buổi cầu nguyện cho hòa bình, nhưng có khi ngọn nến chỉ là vật trang trí.
    Ngọn nến có một “sứ mạng” cao cả là tỏa sáng và hơi ấm cho cuộc đời. Ngọn nến không nói thành lời, nhưng lại có một ngôn từ phong phú mà chúng ta không thể nghe bằng tai nhưng có thể cảm nghiệm bằng tâm hồn.
    Ngọn Nến Phục Sinh
    Trong đêm Vọng Phục Sinh, nghi thức làm phép lửa và thắp nến Phục Sinh tạo nên một ấn tượng mạnh mẽ trong lòng các tín hữu. Cây nến Phục Sinh tượng trưng cho Đức Kitô tỏa ánh sáng rực rỡ xua tan bóng tối tử thần và làm bừng lên tia hy vọng của ngày mới. Tuy nhiên, cảm động nhất là giây phút mọi người lấy lửa từ nến Phục Sinh để thắp sáng cây nến của mình, làm cho ánh sáng chan hòa trong đêm tối âm u. Mỗi người tín hữu là một cây nến nhỏ được Chúa Thánh Thần thắp sáng từ Chúa Kitô Phục Sinh, để từ đó mỗi người tín hữu mang lấy sứ mạng của ngọn nến là tỏa sáng niềm tin, tình yêu và niềm hy vọng cho mọi người. Sứ mạng đó là đem ánh sáng Tin Mừng đến cho thời đại hôm nay.
    Sứ mạng loan báo Tin Mừng xuất phát từ Đức Kitô Phục Sinh vào ngày Thứ Nhất Trong Tuần khi Chúa Giêsu từ cõi chết sống lại. Chúa Kitô Phục Sinh không trao nhiệm vụ loan báo Tin Mừng cho các Tông đồ trong giây phút trọng đại này, nhưng lại trao cho các người phụ nữ trước tiên [Mt 28,9 – 10]. Như thế, sứ vụ truyền giáo không chỉ dành cho riêng ai, nhưng cho mọi người người và trước tiên là cho người giáo dân. Để đốt lên một ngọn lửa, người ta thường khởi đầu bằng một que diêm. Cũng thế, Chúa Kitô đã trao ban sứ mệnh truyền giáo cho Giáo Hội khởi đầu bằng những tia lửa nhỏ để lửa truyền lửa làm sáng lên một bầu trời đức tin rạng rỡ.
    Ngọn nến nói gì ?
    Nến được làm từ sáp ong là sản phẩm lấy từ tổ ong do công khó nhọc cần cù của những con ong thợ. Đó là quà tặng của loài ong cho con người để làm nên những ngọn nến trong cuộc sống.
    Chất liệu của cây nến cho chúng ta biết “bài học của con ong” và gợi lên đức tính phải có của người tông đồ giáo dân : Trên bước đường đi loan báo Tin Mừng, người tông đồ của Chúa phải chấp nhận cực khổ, luôn siêng năng và kiên nhẫn. Người tông đồ chính là người thợ gặt trên cánh đồng lúa chín [Mt 10,38]. Cánh đồng lúa trần thế hôm nay đang cần những người thợ gặt lành nghề và biết chấp nhận gian khó, hy sinh trong công việc truyền giáo.


    Ở giữa cây nến có một sợi bấc gọi là tim nến. Ngọn nến không thể cháy sáng nếu không có tim.
    Cũng vậy, người tông đồ giáo dân không thể tỏa sáng niềm tin trong cuộc đời tông đồ nếu không có trái tim đầy nhiệt huyết. Muốn cho công việc truyền giáo có kết quả, chúng ta phải ra đi với một trái tim được nung đốt bởi lửa Chúa Thánh Thần. Đó chính là tinh thần của các Tông đồ sau ngày lễ Ngũ Tuần, mở tung cánh cửa ra đi khắp nơi làm chứng cho Chúa Kitô Phục Sinh [x.Cv 2]. Cánh đồng truyền giáo hôm nay không thể tỏa ánh sáng Tin Mừng từ những trái tim thờ ơ nguội lạnh, nhưng từ những con tim rực cháy tình yêu.
    Ngọn nến khi cháy sáng luôn chảy xuống những giọt nến nóng bỏng.
    Hình ảnh giọt nến gợi lên hình ảnh giọt mồ hôi, giọt nước mắt và cả giọt máu trong cuộc đời tông đồ. Không có đau khổ, không có chứng nhân Tin Mừng, không có hy sinh, không có truyền giáo. Chúa Giêsu đã đi qua con đường đau khổ để đến vinh quang. Ngài đã bị chống đối, loại bỏ và bị giết chết, nhưng đến ngày thứ 3 Ngài đã sống lại [Lc 9,22]. Đó là con đường tất yếu mà người tông đồ phải đi qua. Chính các sứ giả Tin Mừng ngày xưa đã gieo vãi hạt giống đức tin trên đất nước Việt Nam và đã tưới gội bằng những giọt mồ hôi, nước mắt, cả những giọt máu đào để hạt giống đức tin nảy mầm vươn lên và trổ sinh hoa trái như ngày hôm nay. Người tông đồ hôm nay cũng không thể đi ra ngoài con đường đau khổ và hy sinh ấy.
    “Sứ mạng” của ngọn nến.
    Thử làm một thí nghiệm : Úp ngọn nến trong một cái ly, ngọn nến sẽ tắt. Ngọn nến không thể cháy sáng nếu thiếu không khí.
    Cũng vậy, người tông đồ chỉ có thể tỏa ánh sáng đức tin trong “bầu khí Thánh Thần”. Chúa Thánh Thần luôn là động lực và là sức mạnh khơi lên những ngọn lửa nhiệt tâm trong lòng người ra đi loan báo Tin Mừng. Cũng thế, công việc truyền giáo chỉ có thể phát triển trong bầu khí yêu thương và hiệp nhất giữa gia đình, cộng đoàn, nhất là trong Giáo Hội. Chính sự chia rẽ, bất hòa sẽ “dập tắt Thánh Thần” và làm cho Tin Mừng không thể tỏa sáng. Người tông đồ hãy học lấy tinh thần của các cộng đoàn tín hữu tiên khởi, sống hòa thuận thương yêu nhau [Cv 2,44 – 46] và rao truyền đức tin trong tất cả mọi hoàn cảnh của cuộc sống. Những “ngọn nến Tin Mừng” hôm nay cũng sẽ cháy sáng trong bầu không khí thân thiện giữa mọi người dù khác biệt màu da, tiếng nói hay tín ngưỡng.
    Ngọn nến mang lửa nhưng chẳng đốt cháy gì cả, chỉ đốt cháy chính mình. Càng cháy sáng, ngọn nến càng tiêu hao mình đi.
    Trong nghi thức Rửa Tội, vị chủ sự đã trao cây nến sáng cho người chịu phép Rửa Tội với lời căn dặn đầy ý nghĩa : “Con đã trở nên ánh sáng Chúa Kitô, con hãy luôn sống như con cái sự sáng, để […] khi Chúa đến, con xứng đáng ra nghinh đón Người với toàn thể các Thánh trên trời”.
    Các kitô hữu phải chiếu tỏa ánh sáng cho thế gian : “Ánh sáng của các con phải chiếu rọi trước mặt người ta, để họ thấy việc lành của các con làm mà ngợi khen Cha các con trên trời” [Mt 5,14 – 16]. Như vậy, sứ mệnh truyền giáo của người tín hữu chính là chiếu sáng niềm tin qua những việc làm tốt lành hàng ngày, nhất là những việc bác ái và phục vụ tha nhân. Như ngọn nến càng cháy sáng càng tiêu hao mình đi, người tín hữu cũng phải chịu tiêu hao trong hy sinh quên mình để ánh sáng Tin Mừng được lan tỏa khắp nơi.
    Khi “đứng”, ngọn nến luôn cháy sáng,
    Khi “nằm” xuống sẽ lụi tàn.
    Trước khi về trời, Chúa Giêsu đã ra lệnh cho các Tông đồ : “Hãy đi khắp thế gian rao giảng Tin Mừng cho mọi loài thụ tạo” [Mt 16,15]. Lệnh truyền đó luôn “văng vẳng bên tai và canh cánh bên lòng” Giáo Hội từng ngày như một lời kêu gọi khẩn thiết và cấp bách. Chính vì ý thức được điều đó, Giáo Hội luôn thúc bách mọi tín hữu : “Hãy Đứng Dậy, Hãy Bước Đi” [Tựa đề cuốn sách tự thuật của Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, xuất bản ngày 18/5/2004]. Giữa lúc có nhiều “ngọn nến đức tin” đã ngã đổ và lịm tắt, chúng ta hãy đứng vững, rọi sáng và “truyền lửa” cho nhau. Hãy đứng dậy và ra đi khỏi con người ích kỷ để đến với mọi người.
    Ngọn nến tỏa sáng chung quanh, tuy nhiên, chỗ tối nhất có thể lại ở dưới chân mình.
    Người kitô hữu được mời gọi lên đường rao giảng Tin Mừng cho muôn dân. Nhưng hãy cẩn thận ! Chúng ta “chiếu sáng” mọi người, nhưng lại không “chiếu soi” vào chính mình. Như ngọn nến tỏa sáng chung quanh, nhưng chính mình lại chìm trong bóng tối. Trước khi loan báo Tin Mừng cho người khác, hãy loan báo Tin Mừng cho chính mình, cho gia đình, cho cộng đoàn, cho “Giáo Hội” của mình. Nghĩa là người kitô hữu hãy trở nên thánh thiện để nâng mọi người vươn lên đỉnh trọn lành : “Lời mời gọi truyền giáo tự bản chất bắt nguồn từ lời mời gọi nên thánh. Mỗi nhà truyền giáo chỉ đích thật là nhà truyền giáo khi dấn thân sống theo con đường thánh thiện” [Tông Huấn Sứ Vụ Đấng Cứu Thế, số 90].
    Những ngọn nến sáng cho ngàn năm mới
    “Năm ánh sáng” được dùng làm đơn vị để đo khoảng cách trong không gian. Năm Thánh Truyền Giáo là “Năm Ánh Sáng”. Tuy nhiên, chỉ một “Năm Ánh Sáng” thôi, liệu có đủ ánh sáng để chiếu soi cả một bầu trời truyền giáo bao la của thiên niên kỷ mới này không ?
    Chúng ta hãy là những “ngọn nến tình yêu” không những cho Năm Thánh Truyền Giáo này, nhưng nhờ “những ngọn nến thắp lên những ngọn nến” mà lửa tình yêu sẽ cháy mãi không ngừng.
    Lm Giuse Phạm Văn Lý
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • CHÚNG TA NAY ĐÃ PHỤC SINH! Khổng Nhuận

    “Trong mùa phục sinh, các con hãy sống mầu nhiệm phục sinh”. Đó là lời khuyên của các cha giáo chủng viện ngày xưa. Nhưng bọn chủng sinh chúng tôi có hiểu gì đâu. Nghe tai này bay qua tai kia. Chúng tôi như một đàn cừu lẽo đẽo theo nhau mà chẳng biết mình đi tới đâu.

    Sau một thời gian lênh đênh trên dòng đời, theo tâm tình chu kỳ Phụng vụ, vào mùa vọng chúng tôi cũng cố gắng sửa một vài tật xấu. Chưa sửa được bao nhiêu, thì mùa Giáng Sinh huyền diệu đã tới, chúng tôi nao nức đón mừng Chúa giáng trần. Rồi mùa chay lại tiếp nối, những bài thánh ca Hãy trở về, Hãy trở về với Cha, hãy xé lòng đừng xé áo…chúng tôi chau chuốt giọng ca cho thật hay theo cánh tay bay bướm của ca trưởng. Còn chuyện trở về thì chúng tôi ngơ ngơ ngác ngác giống như ông Philipphê ngày xưa "Thưa Thầy, chúng con không biết Thầy đi đâu, làm sao chúng con biết được đường? " (Ga 14:5) Vẫn biết là trở về với Chúa, nhưng chúng tôi nào có biết Chúa ở đâu. Ở trên trời ư? Xa xôi cách trở ngàn trùng! Ở trong nhà tạm ư? Chúng tôi gặp mỗi tuần, thế mà vẫn vô duyên đối diện bất tương phùng! Ở trong lòng chúng tôi ư? Sao chúng tôi chẳng cảm thấy gì! Ở nơi tha nhân ư? Ở trong người ăn xin nghèo khổ lê lết, dơ dáy, bẩn thỉu trên hè phố ư? Hoang đường! Hão huyền! Chúa ở ngay trong lòng mình mà còn không nhận ra thì lấy cặp mắt kiếng nào mà nhìn thấy Chúa trong anh em khốn khổ, tàn tật, trông chẳng dễ thương chút nào! Chúng tôi cùng lắm là thương hại thôi, chứ làm sao mà nhìn ra Chúa đang hiện diện trong họ. Nếu có giúp họ chút ít tiền bạn hay quà cáp thì cũng mang phong cách của người ban phát, ra vẻ ta đây là đạo đức và thì thầm nhắc nhở Chúa: Chúa nhớ ghi vào sổ đấy nhé!

    Vì thế,chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng Mùa Chay là mùa ăn chay, kiêng thịt và hy sinh hãm mình. Nhiều giáo xứ tổ chức tĩnh tâm - chủ yếu là nghe cha giảng - về các đề tài về mùa chay cho giới trẻ, các ông gia trưởng, các bà hiền mẫu. Các giáo hạt còn tổ chức giải tội vần công với một lúc hàng chục toà hoà giải để giáo dân tha hồ mà xưng hết tội của mình với các cha khách. Xưng tội với cha nhà, sợ ngài nhận ra tiếng thì nguy to. Rồi mùa Phục sinh lại tới, chúng tôi hân hoan tưng bừng đón mừng Chúa sống lại trong thánh lễ nửa đêm ngập tràn ánh sáng. Biết bao bài thánh ca đã được hát lên trong đêm cực thánh này: Chúa nay thực đã phục sinh Alleluia!Alleluia!

    Để mừng Chúa sống lại, nhiều nhóm, nhiều đoàn thể, đặc biệt là ca đoàn thưởng tổ chức Réveillion ngay sau thánh lễ với bia rượu tràn ly. Chúa đã chiến thắng sự chết, Chúa đã chiến thắng tử thần còn chúng tôi chỉ biết reo mừng với những màn cụng ly Dô! Dô!!!

    Một ngày kia, mấy anh em chúng tôi ngồi lại với nhau và nghiêm chỉnh đặt cho chính mình một câu hỏi: Chúa nay thực đã phục sinh. Còn chúng ta, chúng ta nay đã phục sinh chưa? Cả lũ ặt cổ ra, thế là cả bọn quyết tâm tìm cho ra câu trả lời hóc búa này mới được.

    Xin quý vị độc giả coi đây chỉ là những chia sẻ chân thành của một nhóm giáo dân thao thức mò mẫm tìm cho mình một con đường phục sinh như Đức Giêsu mà thôi.

    Thế là một hội nghị bàn tròn mà chỉ có 3 người đang vò đầu bóp trán để tìm ra phương pháp nào hữu hiệu mau đạt được kết quả. Khởi đầu chúng tôi đi theo con đường cổ điển: đi lễ mỗi ngày, khi gặp điều tức tối khó chịu, thì cố mà dằn lòng mình xuống.... Một hai tháng sau chúng tôi cảm thấy mình có vẻ đạo đức hơn, gần Chúa hơn, nhưng chẳng cảm cảm thấy một chút gì gọi là phục sinh. Thế là phải tìm một hướng khác. Chúng tôi quyết tâm đọc lại toàn bộ cuốn Tân Ước và tham khảo một số đoạn Cựu Ước. Suốt một năm, mỗi tuần gặp nhau, chúng tôi nêu suy nghĩ, thắc mắc, chia sẻ những khám phá mới trong một quán café vắng người. Đôi khi, một vấn đề được đưa ra, nhưng mỗi người đều hiểu và giải thích khác nhau. Tuy nhiên chúng tôi vẫn tiếp tục hứng thú cùng nhau tìm hiểu thêm. Cuối cùng, chúng tôi làm một đúc kết nho nhỏ ghi lại những khám phá thú vị về việc phục sinh của người giáo dân.

    v Nêu thắc mắc và tìm cách trả lời

    Trước hết, chúng tôi đưa ra một loạt câu hỏi rồi tự trả lời cho nhau nghe.

    Chúa nay thực đã phục sinh, đúng rồi, nhưng Ngài phục sinh cái gì?

    Tất nhiên là Ngài phục sinh thân xác.

    Nếu bảo phục sinh thân xác thì vô nghĩa, chính Ngài đã dạy chúng ta: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6:83).

    Nếu Ngài không phục sinh thân xác, vậy Ngài phục sinh cái gì?

    Vậy thì Ngài phục sinh tâm hồn!

    Không thể nói Ngài phục sinh tâm hồn vì "Chính Thầy là sự sống lại và là sự sống”.(Ga 11:26) Nếu thế thì sự phục sinh của Ngài mang ý nghĩa: Ngài đã chiến thắng tử thần.

    À, có lý! thế thì chúng ta cùng nhau tìm hiểu và khám phá Lời Chúa sau đây.

    Vậy khi cái thân phải hư nát này mặc lấy sự bất diệt, khi cái thân phải chết này mặc lấy sự bất tử, thì bấy giờ sẽ ứng nghiệm lời Kinh Thánh sau đây: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! (1Cr 15:54)

    Rõ ràng câu trên có nghĩa là: điều kiện để phục sinh là khi thân xác hư nát hay chết này mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Chính lúc đó: Tử thần đã bị chôn vùi. Đây giờ chiến thắng! Nói cách khác, chúng ta nay đã phục sinh.

    v Làm cách nào mặc lấy sự bất tử

    Vấn đề quan trọng trước mắt là làm cách nào để cái thân xác phải chết này mặc lấy sự bất tử. Và đây cũng chính là quá trình từ cõi chết bước vào cõi sống.

    Quá trình từ cái chết tâm linh chuyển sang sự sống dồi dào bắt nguồn từ Thiên Chúa: chúng ta có thể chia làm 3 giai đoạn chính:

    Giai đoạn một: Làm cách nào để mặc lấy sự bất tử - cũng chính là sự sống đời đời của Chúa.

    Muốn nhận ra sự sống đời đời của Chúa, không gì tốt hơn là chúng ta tìm hiểu con người của Đức Giêsu: Thật, tôi bảo thật các ông: giờ đã đến - và chính là lúc này đây - giờ các kẻ chết nghe tiếng Con Thiên Chúa; ai nghe thì sẽ được sống. Quả thật, Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy. (Ga 5:25-26) Qua câu này, chúng tôi khám phá ra rằng: Chúa Cha không chỉ ban cho Đức Giêsu mà còn ban cho tất cả chúng ta nữa - những người em của anh cả Giêsu - bắt nguồn từ tình yêu thương vô bờ của Thiên Chúa , cho nên: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:29).

    Lúc đó, chúng tôi xoáy vào 3 hình ảnh tuyệt vời của Đức Kitô:

    Con Thiên Chúa: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17).

    Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Đức Giê-su được đầy Thánh Thần,” (Lc 4:1).

    Nên một với Chúa Cha: “Chúa Cha ở trong tôi và tôi ở trong Chúa Cha." (Ga 10:38)

    Và người Kitô hữu, vì được đồng hình đồng dạng với Đức Kitô - nên cũng mang 3 hình ảnh tuyệt vời y như Đức Kitô:

    Con Thiên Chúa: “Thực sự chúng ta là con Thiên Chúa”. (1Ga 3:1)

    Đầy Thần Khí Thiên Chúa: “Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta”. (Rm 5:5)

    Nên một với Chúa : “Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một như chúng ta là một”. (Ga 17:23)

    Trước kia, chúng tôi sống theo con người xác thịt, mê mẩn trong cơn lốc tình, tiền, tài, danh vọng, lạc thú của thế gian. Nhưng từ khi chúng tôi khám phá ra khuôn mặt thật của mình dựa vào con người của Đức Kitô. chúng tôi đã cảm nhận được phần nào cái thân xác hay chết này đang mặc lấy sự bất tử. Giờ đây viết lại, chỉ ngắn ngủi 5, 6 hàng, nhưng chúng tôi đã phải tốn gần cả năm trời nghiên cứu, tìm hiểu mới phát hiện ra những điều nghe có vẻ thật đơn giản này.

    Giai đoạn hai: Từ khi nhận ra khuôn mặt đích thực của mình, chúng tôi tập sống trong tâm tình của người con yêu dấu của Chúa, nhờ sức mạnh Thần Khí ngay trong tâm mình. Bỗng một hôm, kẻ trước người sau, mỗi người trong chúng tôi âm thầm nhưng cực kỳ xác tín: Tôi đã phục sinh. Hôm đó, bỗng nhiên tôi thấy mình không phải là mình giống như trước kia nữa. Tôi nhìn người ta đi lại trên đường mà như nửa thật nửa mộng - dù lúc đó tôi rất tỉnh. Tôi phóng xe giữa dòng thành phố mà như chốn không người - trong khi đang chạy xe rất dàng hoàng và đúng luật. Những bon chen thường ngày tự nhiên gần như vô nghĩa. Lúc đó, tôi không còn quá thiết tha với những đam mê thủa trước mà trong lòng vẫn thơ thới hân hoan. Hơn một tuần sau, chúng tôi gặp lại nhau và chia sẻ cho nhau những cảm nghiệm mới nhất. Thì ra cả ba chúng tôi đều nhận ra thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất tử, bất diệt. Và chúng tôi cùng reo lên: chúng ta nay đã phục sinh! Chúng tôi đã tìm được câu trả lời!

    Giai đoạn ba: Từ khi nhận ra mình đã phục sinh. Chúng tôi bắt đầu sống cuộc sống dồi dào như Đức Giêsu đã từng mong ước: sống tự do, tự chủ, đầy sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa, ngập tràn hạnh phúc và bình an. Nhưng vì chúng tôi đã nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian suốt mấy chục năm, thành thử ra chúng tôi hay phản ứng theo cách của con người cũ đã in dấu quá đậm trong trí não của chúng tôi. Thường thường khi có một biến cố gì xảy ra thì tiếng nói của con người cũ luôn luôn lên tiếng trước với những lý luận hết sức thuyết phục. Hay thỉnh thoảng, nghe lời ngon ngọt của thân xác, chúng tôi vấp ngã. Tuy nhiên, chúng tôi có thể đứng dậy dễ dàng sau những vấp ngã, phần thì chúng tôi đã nhận ra bộ mặt giả mạo của thân xác hay chết, phần thì chúng tôi ý thức sức mạnh vô biên của Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình.

    Có một điều rất kỳ lạ! Lẽ ra chúng ta phải cởi bỏ con người cũ hay hư nát, rồi mới khoác cho mình con người mới. Đàng này, chúng tôi lai lo tìm gương mặt con người mới theo khuôn mặt tuyệt vời của Đức Kitô. Ai ngờ, khi khám phá ra khuôn mặt đích thực của mình thì những mặt nạ tiền tài, danh vọng, đạo đức giả, đam mê… con người cũ hay hư nát tự nhiên rơi xuống, và lập tức cái thân xác hư nát hay chết này lần đầu tiên đã mặc lấy sự bất diệt - cuộc phục sinh bắt đầu…

    Nói như vậy thì chúng ta dẹp bỏ chu kỳ phụng vụ của Giáo hội hay sao? Xin trả lời : Hoàn toàn không phải vậy. Như vừa trình bày, tuy chúng ta đã bắt đầu cuộc sống mới nhưng chúng ta đã bị nhiễm quá nặng tư tưởng thế gian nên vẫn cần phải có mùa vọng để ta tiếp tục bạt, tiếp tục lấp những lối sống cũ; vẫn cần mùa chay để tiếp tục cởi bỏ con người cũ với cách nhìn của nhân loại, và mặc con người mới theo lối nhìn tâm linh phát xuất từ Thần Khí Thiên Chúa để ngày càng giống hình ảnh ảnh Thiên Chúa hơn. Và tất nhiên là, trong mùa phục sinh chúng ta lại có nhiều dịp để thực hiện ý tưởng chúng ta nay đã phục sinh! mỗi năm càng hoàn hảo hơn.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Sunday, March 20, 2005

    Philatô hỏi: “Thế thì, sự thật là gì?” (Gioan 18:38).

    Lạy Chúa Giêsu Kitô, chính Ngài là Sự Thật. Vì Lời Ngài là chân lý . . .

    Những việc Ngài làm đều chân thật . . .
    Chủ tâm của Ngài là chân tâm . . .
    Lời Ngài hứa là lời chân thiện. . .

    Việc Chúa chết đi và Sống Lại là chân tướng của Chúa . ..

    Ân sủng và Lòng Thương Xót là chân tánh của Ngài . . .

    Ơn tha thứ của Chúa là chân tình . . .

    Niềm tin Chúa ban cho con là niềm tin chân chính . . .

    Ơn cứu độ con là Chúa chân tín .. . thực thi Lời hứa của Ngài . . .

    Niềm hy vọng hằng sống cùng Chúa là sức mạnh chân thực.

    Lạy Chúa, con thật sự lệ thuộc vào Chúa. Mọi sự con có đều nhờ Chúa, vì Chúa và cho Chúa.
    Vũ trụ này được hiện hữu, hoạt động và sinh sống – đều do Chúa mà được. Chúa yêu con.
    Và đó là chân lý vĩnh cửu.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Saturday, March 19, 2005

    Philatô hỏi: “Ông có phải là người Galilê không?” (Luca 23:6).

    Lạy Chúa Giêsu, phải chăng lúc đó Philatô muốn trách né trách nhiệm đối với Chúa? Ông không muốn đích thân xét xử nên tìm “ý kiến người khác”? Ông muốn nghe kẻ khác xử án Chúa? Hay ông còn có thâm ý nào khác?
    Khi nghe biết Hêrôđê tuyên bố rằng Chúa vô tội, nào ông có vui đâu? Vì đó có phải là án xử mà ông muốn nghe đâu? Vì cho dầu Hêrôđê có tha cho Chúa, Philatô vẫn kết án Ngài.

    Chúa ơi, việc làm của Philatô khiến cho con phải xét lại chính mình. Con tự hỏi phải chăng nhiều lúc con cũng đối xử với Chúa như Philatô? Con tìm kiếm “ý kiến người khác” để xem xét họ phản ứng như thế nào với Chúa? Xét xem họ có lắng nghe Chúa hăng? Họ có thật lòng tin tưởng Chúa chăng? Hoặc họ có phò tá Chúa – theo chân Chúa thật chăng?
    Song, lạy Chúa, Chúa không kêu gọi con đặt niềm tin vào dư luận hay ý kiến của thiên hạ. Chúa gọi con tin vào chính Ngài. Vì Thần Khí Thánh của Chúa lúc nào cũng nói thật
    với lòng con về Chúa. Tiếng nói của Đức Chúa Thánh Thần phải là “ý kiến thứ hai” mà con cần phải lắng nghe.

    Lạy Chúa, xin khóa tai con lại để con đừng nghe theo tiếng dư luận của thiên hạ về Chúa, nhưng xin hãy mở rộng lòng con để con lắng nghe tiếng Chúa Thánh Thần hằng luôn
    nhắn nhủ con.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • “Các ông vừa nghe nó nói lời hung dữ phạm thượng đó. Vậy các ông xử trí thế nào đây?” (Marcô 14:64).

    Lạy Chúa, cuối cùng rồi cũng phải đưa đến điểm đó, phải không Chúa? Dù tốt hay xấu thế nào, con được kêu gọi phải quyết định.
    Con có đồng ý với quyết nghị chính thức của các thượng tế hay không? Con có chấp nhận Lời Chúa vừa nói đó là “lời hung dữ phạm thượng” không? Con có cùng chia sẻ ý kiến chung của nhân loại không? Ấy là Ngài đến để làm hại con, tước đi tự do, lấy mất niềm vui và thậm chí đoạt hết tiền tài của cải của con?

    Song lạy Chúa, Chúa đã nói gì mà họ lại cho Ngài nói lời “hung dữ phạm thượng” vậy? Có phải vì Chúa công nhận Ngài quả thật là Con Thiên Chúa – là Đấng đã đến thế gian để cứu độ nhân loại?!

    Cũng như Tòa Án Thượng Phẩm Do Thái xưa kia, con có lấy làm tị hiềm vì Ngài là Chúa, là Đấng nắm giữ toàn quyền quyết định trên sự sống con người – còn con chẳng là gì cả
    không?

    Giả như con đồng ý với Tòa Án Thượng Phẩm rằng Chúa đã nói lời “hung dữ phạm thượng” rồi lỡ khi con lầm thì sao? Lỡ khi quả thật Ngài là Thiên Chúa thì con sẽ làm gì đây?

    Chúa ơi, con không dám mạo hiểm đâu! Quyết định của con là con sẽ lắng nghe Lời Ngài, tin tưởng vào Ngài và bước theo chân Ngài . . . và trên hết, con ước ao được chết với Chúa. Bởi vì thà con chết mà có Chúa còn hơn là chết không có Chúa!
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • “Nếu điều Ta nói là phải, tại sao lại đánh Ta?” (Gioan 18:23)

    Chúa ơi, sao họ lại đánh Chúa vậy? Đúng lý ra chính con phải tự hỏi, sao con lại đả
    thương Chúa như thế? Phải chăng vì thấy Chúa thánh thiện quá nên con sợ? Con sợ Chúa tốt thật. Nhất là Chúa tốt thật với con nên con đả thương Ngài?!
    Lạy Chúa, khi kiểm soát lại lương tâm, nhiều khi con nhận thấy nếu có ai đó tốt lành
    đạo đức đến ở gần con, con thường cảm thấy mình xấu xa tội lỗi. Con ray rứt trong òng vì thấy người ta tốt hơn mình. Chúa ơi, cảm giác ấy thật khó chịu.
    Nhiều lúc chịu không được sự tốt lành của người khác, con tìm cách bài bác họ. Vì thấy mình chẳng có gì ngay chính nên con không tin rằng trên đời này có người tốt thật. Con phải làm sao cho mọi người thấy rõ chân tướng của kẻ sống đạo đức.

    Nếu thấy người ta đọc kinh, tham dự Thánh Lễ và làm việc tông đồ mà con lại chẳng bao giờ tham gia, con sẽ phê phán rằng họ sống đạo hình thức. Họ chỉ có lớp vỏ đạo đức bề ngoài. “Còn tôi thì tôi sống nội tâm. Tôi giữ đạo tại tâm!”

    Chúa ơi, con biết chính Chúa đã rơi vào tình cảnh như thế. Giữa một xã hội ai nấy
    cũng coi trọng việc giữ hình thức đạo đức bề ngoài, Chúa lại đến và thật sự sống đạo. Điều đó khiến cho nhiều người lấy làm khó chịu. Họ phải đánh Chúa để khỏi phải đối diện với cái xấu và điều tội của họ.
    Lạy Chúa, chính con đã dùng nhiều lý do để bênh vực cho quyền đả thương Chúa – là
    đấng tốt lành thật. Vậy thì vì sao con đả thương Chúa như thế?
    Phải chăng vì Chúa nói lên sự thật và lời ấy lên án tội con? Vì lời ấy còn vạch ra cho con thấy sự ích kỷ, hèn hạ và ngỗ nghịch của con đối với thánh ý Chúa!?
    Hay là có phải vì con muốn làm chủ cuộc đời mình và rồi lại thấy Chúa là Đấng nắm giữ
    chủ quyền trên đời con nên con phân bì dị nghị Chúa?
    Hoặc con đả thương Chúa vì Chúa đòi hỏi con quá sức con chịu đựng? Phải chăng điều đó, một lần nữa, bộc lộ sự ích kỷ, hèn hạ và ngỗ nghịch của con?
    Cách riêng, trong Mùa Chay Thánh này Giáo Hội đưa ra nhiều giới luật ràng buộc con phải tuân giữ. Nào là ăn chay. Nào là hãm mình. Nào là hy sinh. Nào là bố thí. Nào kiêng cử. Nào là cầu nguyện. Biết như vậy lòng con không muốn tuân hành nên con tìm cách phê phán, chỉ trích?
    Lạy Chúa, con biết chỉ vì con không thấu hiểu tại sao phải tuân giữ những giới luật ấy
    nên con chống báng. Thật sự ăn chay, hãm mình, hy sinh, bố thí, kiêng cử và cầu nguyện có đem lại lợi ích gì cho Chúa đâu? Con tuân giữ những điều đó ích lợi cho con nhiều hơn. Cuối cùng, chỉ vì Chúa yêu thương con và muốn cho con được tốt đẹp nên Ngài
    mới răn dạy và khuyên bảo con.
    Lạy Chúa Giêsu, con phải nhìn nhận Chúa nói đúng lắm! Con không được quyền đánh Chúa
    chỉ vì Chúa yêu thương con. Con không được quyền đả thương Ngài vì Ngài tốt lành
    thật!
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • “Hãy đoán xem: Ai đánh ngươi vậy?” (Luca 22:64).

    Lạy Chúa, sao Chúa không trả lời vậy? Con biết câu hỏi của con cũng không khác gì câu hỏi của Thượng Tế Annas trước đây: “Ông không đáp gì lại sao?” (Matthêu 26:62). Nhưng bây giờ con cũng thắc mắc giống như ông ta.
    Chúa ơi, một sỉ nhục lớn Chúa phải chịu là bị quân dữ bịt mắt rồi chế diễu. Chúa là Đấng thông biết mọi sự và nhiều lần Chúa đã đọc biết được tư tưởng của những người đến gần Chúa. Ngài thấu suốt mọi việc họ làm, lời họ nói và ý tưởng họ ôm ấp trong lòng.
    Con nhớ lần đầu tiên Chúa gặp Natanaen, Ngài nói ngay: “Này đây một người Israel chân chính, trong mình không mảy may gian dối” (Gioan 1:48). Quả thật, Chúa thấu đáo lòng
    người. Nghe vậy, Natanaen hết sức ngạc nhiên nên hỏi: “Bởi đâu mà Ngài biết tôi?” (c. 49). Chúa đáp lại: “Trước khi Philip gọi ngươi, Ta đã thấy ngươi dưới cây vả!” Lúc
    đó, Natanaen lập tức suy phục Chúa: “Lạy Thầy, Ngài là Con Thiên Chúa” (c. 49). Ông nhận biết Chúa không những thấu suốt lòng người mà còn thấy được mọi việc con người làm. Ngài thật là Thiên Chúa Toàn Tri.

    Vậy mà, bây giờ Chúa lại để cho quân dữ bịt mắt Chúa để rồi đập lên đầu Ngài. Xong, họ còn chế nhạo: “Này ông tiên tri, hãy đoán xem: Ai đánh đầu ông vậy?” Thật là nhục hã!

    Lạy Chúa, con biết với quyền năng “toàn tri” của Chúa, Ngài có thể cho họ một bài học nhớ đời! Chúa có thể nêu đích danh từng người một. Chúa còn có thể nói huỵch toẹt ra mọi điều ghê tởm họ đã làm – không chỉ của họ mà còn cả ông bà cha mẹ, tông chi họ hàng của họ. Thậm chí, ngay cả sáng hôm đó họ ăn gì, nói gì, làm gì hoặc đi đâu! Nói ra để cho họ “biết mặt” – cho họ thấy quyền năng của Chúa mà kính sợ! Rồi một khi họ đã nhận biết Ngài là Thiên Chúa, Chúa cũng có thể nói: “Bây giờ đến phiên Ta! Hãy đoán xem: Ta sẽ làm gì các ngươi đây?” Chúa có thể cho họ thấy “ngón tay quyền năng”
    của Ngài!

    Lạy Chúa, con xin được đáp lại lời của Chúa mà đoán thay cho họ. Chúa chẳng hề phô
    trương quyền năng của Ngài và đó chính là lý do tại sao Ngài là Chúa Cứu Thế, chứ không phải con.
    Chỉ có Đấng Cứu Độ nhận loại mới chịu đựng được những sỉ nhục như thế mà không một lời oán trách.

    Chúa ơi, thấy Chúa hiền từ khiêm nhu như vậy, con nhận biết mình thật kiêu căng ngạo
    mạng đáng phải chết lắm.
    Lạy Chúa, xin tha tội cho con.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • “Ông ta đã làm điều gì ác?” (Mátthêu 27:23).

    Lạy Chúa Giêsu, nhiều lúc con áp dụng câu hỏi này cho chính mình.Nhất là khi con nghĩ rằng mình là nạn nhân vô tội mà lại phải gặp những sự bất công trái ý. Trong những lúc ấy, con cảm thấy như Chúa đối xử tệ bạc với con nên con hay trách: “Con có làm gì tội đâu mà sao lại xử bất công với con? Con có làm gì ác đâu sao Chúa để con phải
    khổ như thế này?” Thay vì nhìn nhận mình có lỗi, con lại nghĩ rằng con phải khổ chỉ vì Chúa không tốt với con!
    Thật, con biết mình vô lý lắm, Chúa ơi!

    Lạy Chúa, khi lắng đọng tâm hồn, con nghe tiếng Chúa hỏi: “Con ơi, chính Ta là Đấng đã ban cho con sự sống tự ban đầu – điều đó có gì tệ bạc đâu con? Ta là Đấng nắn
    tạo nên thân thể và các chi thể của con – phải chăng con kết
    tội Ta vì lý do đó? Ta là Đấng đã bao quanh con với những người thân yêu và bè bạn – phải chăng vì Ta có ác ý muốn hại con? Ta quan phòng, chở che và cung cấp cho con
    mọi điều con cần như cơm ăn, áo mặc, nhà ở, việc làm, thời gian và phúc lộc –
    phải chăng Ta đã làm điều gì ác?”
    “Con ơi, Ta đến nơi thế gian sầu đau này để chịu khổ vì con và Ta đã chết cho con
    để xóa bỏ hết mọi tội lỗi của con – thế mà con lại lên án Ta ư? Chỉ vì con mà Ta đã chiến thắng tử thần để hứa ban cho con thiên đàng – vậy mà con vẫn không hiểu được lòng Ta sao?”
    Lạy Chúa Giêsu, khi nhìn lại bản thân, con thấy chính con là kẻ gian ác – chứ chẳng phải Chúa. Song chính vì thế mà Chúa đã chịu để cho người đời tố cáo và kết tội, phải không Chúa? Chúa lãnh nhận tất cả tội lỗi của con để trong ngày phán xét, chẳng ai có thể hạch hỏi về con: “Nó đã làm gì ác?” Nhưng chính Chúa sẽ bào chữa cho con: “Ta đã lãnh chịu tất cả tội lỗi cho nó hết rồi!”

    Chúa ơi, con biết con nợ Chúa tất cả. Nay, con xin dâng lại tất cả cho Chúa.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Friday, March 18, 2005

    “Ông không trả lời tôi sao? Xem kìa, họ tố cáo ông biết bao nhiêu điều!” (Marcô 15:4).

    Lạy Chúa Giêsu, con biếtđược chủ ý của Philatô khiđặt ra câu hỏi này. Ông ta muốn
    bắt ép Chúa phải trả lời cho bằng được. Chúa càng thinh lặng, ông càng cật vấn.

    Chúa ơi, nhiều lần con cũng đối xử với Chúa như vậy. Nhất là những lúc con kêu cầu cùng Chúa mà chẳng nghe Chúa đáp lời. Những lúc ấy, con thường hỏi: “Sao không trả
    lời con?” Hoặc là “Chúa có ở đó chăng?”

    Giờ đây, khi xét lại chính mình, con tự vấn những lúc con vặn hỏi Chúa, thái độ của con có giống như thái độ của Philatô không?

    Câu hỏi của con có kiêu căng,hống hách, ngạo mạng và vu vạ đối với Chúa chăng? Luận
    điệu và cung giọng của con có tỏ vẻ như con được quyền cật vấn Chúa chăng?

    Lạy Chúa, Philatô thật không biết ông đang đối diện với Thiên Chúa Toàn Năng. Ông không biết ông đang đứng trước “Đấng thật đáng kính sợ” – “Đấng có thể diệt cả
    hồn lẫn xác trong hỏa ngục”(Mátthêu 10:28). Thật, ông không biết ông đang xét xử Đấng sẽ xét xử ông trong ngày tận thế!

    Con cũng vậy, Chúa ơi! Khi con hạch hỏi Chúa tại sao, phải chăng con cũng đang xét xử Chúa là Đấng sẽ phán xét con trong giây phút con lìa đời?

    Lạy Chúa Giêsu, Ngài đã nín thinh không đáp lại. Sự thinh lặng ấy quả thật là một câu trả lời tuyệt vời vì mang đầy quyền năng cứu độ.

    Chúa ơi, xin cho con được khiêm nhường để ôm ấp sự thinh lặng của Chúa.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • “Ông có phải là Vua Dân Do Thái không?” (Mátthêu 27:11).

    Lạy Chúa Giêsu, đối với tổng trấn Philatô, có lẽ đó là câu hỏi vĩ đại nhất cuộc đời ông. Câu hỏi này có liên quan đến quyền bính của ông, nói riêng và quyền lực của
    đế quốc Rôma, nói chung.

    Dân chúng Do Thái ai nấy cũng đều thù ghét người Rôma vì họ đô hộ khống chế mọi người. Còn Philatô vì ông đại diện cho đế quốc Rôma nên ông biết rõ dân chúng hết sức căm thù ông. Nếu sơ xuất bất cẩn, ông có thể mất mạng bất cứ lúc nào.
    Chúa ơi, câu hỏi của Philatô quả thật là một câu hỏi vĩ đại trong lịch sử nhân loại. Khi Chúa còn đi rao giảng Tin Mừng Nước Trời, nhiều người đến hỏi Ngài là ai?
    Có người cho rằng Ngài là tiên tri Êlia, Giêrêmia, Gioan Tẩy Giả hoặc một tiên tri nào đó. Chỉ có Philatô hỏi thẳng vào vấn đề:
    “Ngài có phải là Vua Dân Do Thái không?”

    Câu hỏi này mang tính chất chính trị. Phải gọi đây là một câu hỏi tối hậu quyết định vận mạng sinh tử của Chúa. Nếu Chúa trả lời phải, Ngài trở nên kẻ thù số một của đế quốc Rôma.
    Ngài tự kết án tử cho chính mình.Còn Ngài trả lời không, thế giới này thật hóa ra vô vọng. Vì không có Đấng Cứu Thế.

    Lạy Chúa Giêsu, con nhận thấy rằng tuy câu hỏi của Philatô rất quan trọng, nhưng lại quá thấp hèn đối với Chúa. “Vua Dân Do Thái” chẳng xứng đáng với gốc tính và chân tướng của Chúa. Vì vậy mà Ngài chẳng màng trả lời trực tiếp.
    Con thấy câu hỏi đáng được nêu lên là “Ngài có phải là Vua Vũ Trụ không?” Hơn thế nữa, phải chăng “Ngài là Chúa Tể Càn Khôn – Vua Cả Đất Trời?”
    Quả thật là thế! Song, lạy Chúa, con thấy Chúa không chỉ là Chúa Tể Cả Khôn mà thôi. Vì Ngài đến thế gian để làm Chúa Tể lòng người. Chúa ơi, xin Chúa hãy là Vua
    của lòng con.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?