Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Thursday, April 28, 2005

Vòng gai và nụ hôn

Ðưa chân vào đời là vô bờ những tiếng gọi đi về tương lai. Mỗi bước chân là một lựa chọn định hướng. Lối đi nào cũng là mời gọi thiết tha. Có lối đi êm đềm của hạnh phúc lứa đôi. Cũng có tiếng gọi về một cuối đồi trải dài nẻo đường lý tưởng. Ðó là lối đi của thập giá, là bước chân Ðức Kitô. Trong lối đi ấy, hồn Ðức Kitô như cánh diều đong gió, thênh thang, thản nhiên cõi đời.

Người thanh niên nhìn về tương lai với hai nẻo đường đi, giữa cõi trời dệt mộng và lối đi nghệ sĩ như cánh diều của thập giá. Chàng chọn con đường thứ hai. Chàng yêu những chân trời nắng dội. Chàng thích những bình minh lên đường. Chàng mơ một ngày gặp Ðức Kitô để muốn một đời phiêu lưu với Ngài.

* * *

Ðức Kitô đang đi tìm những tâm hồn nghệ sĩ. Thế là họ gặp nhau. Rồi từ đó, họ rong chơi trong vũ trụ. Qua núi. Qua đồi. có những quãng đời nắng bụi chân trần, nhễ nhãi mồ hôi nhưng mà họ vui biết bao. Ðức Kitô dạy người học trò của mình về vương quốc của Cha Ngài. Ngài bảo vương quốc ấy không có hàng rào chia ranh giới, không có đạo quân canh giữ, vương quốc là một bữa tiệc, là một luân vũ hân hoan. Rất vui. Ai vào cũng được, tuy nhiên có điều muốn luân vũ hân hoan thì họ phải tự do, phải như gió rong chơi bốn mùa, phải như mây tan ra, vì thế họ phải từ bỏ nhiều lắm.

Ðức Kitô chuẩn bị cho người học trò của mình mai sau tiếp nối bước chân trần trên cát nên Ngài đem người học trò qua tất cả mọi nẻo đường cuộc đời. Lối dạy của Ngài rất lạ. Có những chiều hôm nắng quái, để dạy cho trò về sự sống, Ngài chọn nghĩa trang im lặng. Hai Thầy trò bên ven rừng hoang vu. Giữa những ngôi mộ đã nghìn thu im tiếng mà Ngài cứ say sưa giảng: Ðó là sự sống! Ðó là sự sống!

Ðể thấy vũ trụ xôn xao, để hiểu thế nào là âm nhạc, người học trò phải vất vả theo Ngài cả một ngày dài, sau cùng Ngài dẫn vào sa mạc. Ðêm về, trăng lên,. Vằng vặc không một bóng người. Lặng lẽ quá đỗi. Chỉ có mênh mông. Không một âm thanh mà Ngài chìm vào một hòa tấu như cả vũ trụ đang khiêu vũ rồi Ngài say sưa nói với học trò: Ðó là âm nhạc! Ðó là đàn ca!

Ngược theo những vạt nắng. Xuôi về những bến sông. Một lần ngang qua phố chiều, Ngài cho người học trò nhin thấy tất cả tiền bạc giấu kín trong bao. Vàng bạc ngời sáng làm người học trò không biết nhin nơi đâu. Chung quanh là tiền rừng bác bể mà Ngài lai hỏi người học trò: Con thấy không, đau là sự tự do, con thấy không, họ nghèo túng quá!

Có lần người học trò hãnh diện chỉ vào đền đài: “Kìa, Thầy nhìn xem vinh quang của Giáo Hội ta.” Ðức Kitô hỏi người học trò: “Con muốn vào ở trong đó hay muốn đi với Thầy?” Người học trò không hiểu. Ðức Kitô nói tiếp: “Con muốn pháo đài hay tự do”. Người học trò chẳng hiểu. Ngài bảo người học trò: “Thôi, hãy lên đường con ạ.” Cả hai lại tiếp tục đi. Ở đằng trước mặt, con đường hiểu biêt Thầy vẫn còn hun hút chưa thấy bến bờ....

* * *

Ði qua phố núi. Bề qua chợ chiều. Rong ruổi trong đời đã là bao năm. Lên những bình minh rực rỡ. Xuống những mưa rầm rì. Ðức Kitô đã dạy cho người học trò tất cả lý tưởng của mình. Rồi cũng đến ngày Thầy trò chia tay. Nghi thức chia tay vào đời làm chứng nhân, kết thúc những ngày theo học với Thầy sẽ là vòng tay chúc bình an của Thầy. Trăng mờ lạnh hơi sương, người học trò nghĩ đến sáng mai, khi vạt nắng trải dài xuống sườn đồi chàng sẽ giã từ Thầy. Nôn nao như một mùa hội mới. Cũng buồn vì xa Thầy, nhưng chàng đã trưởng thành, và Thầy gởi gắm giấc mơ của Thầy nơi mình, chàng phải can đảm. Cứ nghĩ đến một ngày rong ruổi độ thân như đời Thầy, cứ nghĩ đến dời mình như cánh diều lộng gió bay cao, chàng xôn xao chờ phút giây trọng đại.

Vạt nắng bắt đầu hắt lên, nắng rực rỡ sẵn sàng làm chứng cho một chia tay hào hùng. Khi mặt trời nức đất đẩy lên một vùng lửa cũng là lúc không gian trang trọng đón chân Ðức Kitô đến. Hiến lễ tạ ơn đã xong, chàng đến quỳ trước Thầy mình nhận sứ vụ. Ðức Kitô từ từ cúi xuống chúc bình an cho người học trò của mình, gửi chàng những thâm tình lần cuối. Khi vòng tay của Ngài buông xuống bờ vai, mặt Ngài cúi sát xuống vầng trán của người học trò thì cũng là lúc mặt trời ngưng hơi thở và nắng hốt hoảng lo âu. Nhìn lên mặt Thầy cũng dần dần cúi xuống sắp sửa rạch lên trán. Một cách ngại ngùng, người học trò nhăn mặt nới thỏng vòng tay. Vòng gai còn đó, nụ hôn không thành.

Ðức Kitô thấu hiểu tâm hồn người môn sinh. Ngài không thể chúc bình an cho người học trò được nữa. Tự do là tất cả giá trị của tặng vật, vòng tay ngại ngùng đã đánh rơi lòng muốn, ánh mắt sợ hãi đã lên mờ sương đục của thiết tha. Ðức Kitô không thể cúi ôm người học trò khi mà người học trò ấy ngại ngùng. Không có tự do là cưỡng bức. Bất ngờ quá. Người học trò bối rối trước vòng gai nhọn, đôi tay đã buông thỏng mà không hẳn là dám dứt bỏ, muốn đi tới mà nặng trĩu ở đằng sau. Nắng đang sẵn sàng chứng giám cho cuộc lên đường anh hùng đột nhiên xanh xao sợ hãi vì chẳng biết những gì sắp xẩy ra. Ðức Kitô cũng không ngờ sự thế ngoài tầm dự đoán. Lòng xót thương đẩy Ngài đến một sáng kiến cũng không ngờ. Ðể gỡ cho người học trò khỏi mất mặt không biết phải phản ứng như thế nào trước vòng gai nhọn, Ngài ôn tồn hỏi người học trò:

-Con muốn xuống núi sáng nay không hay con muốn ở lại với Thầy ít lâu nữa?

Người học trò bám vào câu hỏi như chiếc phao để gỡ rối. Và dĩ nhiên chúng ta biết người học trò đã ở lại. Vòng gai còn đó, nụ hôn không thành.

* * *

Từ ngày nhánh gai nhọn chạm lên trán, chàng bối rối nhiều về nụ hôn. Chàng sợ vòng tay chúc bình an của Thầy, vì vòng gai và nụ hôn không thể tách rời. Chàng tự hỏi rồ lo sợ cho một cuộc lên đường. Những xuôi mùa trăng. Những ngược mùa gió. Từ ngày xuống núi không thành, chàng trăn trở tiếng gọi theo Thầy. Cánh diều lộng gió hôm nào, có đẹp, có mênh mông, nhưng không dễ để mình bay cao. Bước chân Thầy đơn sơ nghèo khó mà sao quá đỗi nặng nề đối với mình. Những vạt nắng về rồi đi, loãng thoãng trong hồn. Loãng thoãng cho thấy nỗi buồn loang lổ của một trái tim đang dang dở. Nó loãng thoãng nhưng đủ móng vuốt nhẩy bổ vào chiếu dọi đây đó trong vùng sâu tâm tư những ngõ tối mà khi bắt đầu cuộc sống chứng nhân chàng mới hiểu nỗi đau.

Còn Ðức Kitô, từ ngày đó, cánh diều là người học trò mà Ngài đang nương giây đẩy gió cho lên cao có lẽ sẽ bay mất. Nó đứt giây không phải vươn mình trên cõi đời mà là chao đảo rồi rơi sập.

Trong băn khoăn, sáng kiến đã đưa đến lời nguyện cầu sáng tạo táo bạo. Ngài thầm nghĩ người học trò chỉ vì sợ vòng gai chạm vào da mặt mà không dám ôm Ngài, nên Ðức Kitô quyết định xin Cha Ngài một đặc ân là tạm bỏ vòng gai trên đầu trong giây lát để có thể chúc bình an cho người học trò mà không làm nó miễn cưỡng chấp nhận. Ðức Chúa Cha nhận và rừng lá lại nôn nao chứng dám cho một cuộc lên đường hào hùng.

* * *

Nhè nhẹ như cánh lá vàng thu của một đồi chiều hạnh phúc trong trái tim. Ðức Kitô an tâm hơn, có niềm vui nhưng còn kín đáo đợi chờ. Cũng như lần trước, người học trò chuẩn bị hiến tế tạ ơn rồi chờ đợi Thầy mình đến. Từ lúc được Thầy báo tin giây phút chia tay, hình ảnh gai nhọn lại hiện về. Lần trước chia tay không thành. Mũi gai và vòng tay chúc bình an là một. Người học trò bịn rịn mồ hôi cho một cuộc lên đường. Sau cùng Ðức Kitô đã đến.

Trong là ngơ ngác khó hiểu. Ngoài là ngạc nhiên buông xuống. Người học trò chăm chăm nhìn Ðức Kitô xa lạ. Chàng chẳng thể nhận ra. Vòng gai và Ðức Kitô không thể tách rời. Thiếu vòng gai Ðức Kitô không còn là Ðức Kitô nữa. Người học trò hỏi người khách lạ.

-Ông là ai?

Ðức Kitô trả lời:

-Con không nhớ là Thầy hẹn ở đây để chúng ta có nghi thức chia tay sao?

Phân vân, người học trò nhìn lên mặt Ðức Kitô rồi xác quyết:

-Không! Ông không phải là Thầy tôi. Nhưng ông là ai mà biết bí mật câu chuyện giữa tôi và Thầy tôi?

-Ðã bao năm theo Thầy mà con không nhận ra giọng nói của Thầy sao?

Người học trò càng phân vân hơn nữa. Có lẽ là giọng nói đó chăng, nhưng cong vòng gai đâu. Dấu hiệu của Thầy mình là vòng gai hay giọng nói?

Mẩu đối thoại tiếp tục.Theo dõi hai người nói chuyện mà mặt trời lại hồi hộp ngừng thở và nắng sợ hãi lo âu không biết những gì sắp xẩy ra. Một bên nhận là Thầy. Một bên chối là không. Người học trò mỗi lúc mỗi liên tưởng đến vòng gai nhọn mà thấy khuôn mặt người khách lạ này khác Thầy mình quá. Khuôn mặt Ðức Kitô không có vòng gai trông lạ lẫm làm sao!

Rồi trời lại về những hoang mang. Rồi đất lại đi những ngập ngừng. Cuộc chia tay lần thứ hai không thành. Nắng đã lên cao trên đỉnh đồi. Nắng đổ xuống chói chang đọng vào tim người học trò những gay gắt.

* * *

Bạn thân mến, Ðức Kitô có hai khuôn mặt. Lúc Ngài lang thang ở biển hồ Galilê, lúc gọi các môn đệ theo mình, Ngài không có vòng gai trên đầu. Những ngày theo Thầy học đạo, các môn đệ chỉ theo Thầy để học bằng lời.

Sau biến cố Golgotha, từ ngày Ðức Kitô bị treo trên thập giá, khuôn mặt Ngài mang chứng tích tình yêu và cứu độ là vòng gai trên đầu. Theo Ðức Kitô để học là theo 3 năm Ðức Kitô dạy phải chết thế nào cho trọn lời Kinh Thánh. Còn theo Ðức Kitô làm chứng nhân là theo Ðức Kitô sau biến cố tử nạn, là theo một khuôn mặt luôn luôn có vòng gai trên đầu. Từ ngày tử nạn thì tấm căn cước, chứng minh nhân dân của Ngài luôn luôn có vòng gai.

Hôm nay theo Ðức Kitô là làm chứng nhân chứ không phải chỉ nói về Ngài. Bỏ vòng gai trên đầu Ðức Kitô không còn là Ðức Kitô nữa. Bỏ vòng gai trên đầu, Ðức Kitô không vào phục sinh được. Vinh quang và đau thương là một. Không thể chỉ có một Ðức Kitô rao giảng mà không có Ðức Kitô bị đóng đinh. Không thể tách rời thập giá vòng gai và ơn cứu độ. Ðức Kitô chỉ rao giảng mà không vào khổ nạn đấy không phải là Ðức Kitô thật. Bởi đó, kẻ chỉ theo Ðức Kitô cắt nghĩa Kinh Thánh mà không theo Ðức Kitô vòng gai là một loại ngôn sứ giả hiệu.

* * *

Ðã hai lần người học trò không xuống núi làm chứng nhân được. Bây giờ là lần thứ ba. Bạn có nghĩ lần này người học trò xuống núi được không. Khi biết rõ theo Thầy học Kinh Thánh thì khác mà theo Thầy làm nhân chứng thì khác. Khi biết rõ vòng gai và nụ hôn là một không thể tách rời. Khi biết rõ Thầy mình luôn luôn mang vòng gai, và theo Thầy bây giờ là theo khuôn mặt vòng gai ấy, người học trò sẽ từ bỏ lý tưởng làm con diều lộng gió hay sẽ tiếp tục.

Trở về câu hỏi riêng tư của lòng mình, lần thứ ba này là của riêng bạn, của riêng tôi. Biết rõ nghĩa trang là đường vào sự sống và thinh lặng là âm nhạc. Biết rõ làm chứng nhân là theo Ðức Kitô có vòng gai. Biết rõ thập giá và phục sinh không thể tách rời. Chúng ta có theo Ngài không? Trong cõi tim mình tôi đi tìm câu trả lời cho riêng tôi, bạn tìm câu trả lời cho riêng bạn, vì tiếng gọi là một lựa chọn tự do. Thôi chúng ta phải chia tay ở đây.

Còn lần thứ ba đã xẩy ra những gì cho người học trò? Câu chuyện quá riêng tư, mà thế giới riêng tư thì chẳng phải là của bạn, chẳng phải của tôi, cứ để cho người học trò đó thế giới của anh ta. Như thế chắc ta chẳng nên băn khoăn tìm hiểu lần thứ ba của người học trò làm gì.

Nguyễn Tầm Thường
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Trên đường về

    Trên đường về với Chúa, tôi đã bao lần cất cánh bay lên, nhưng có mưa phùn làm đôi cánh lạnh giá.

    Ðã bao lần tôi muốn đi tới, nhưng lối về có gai góc cản ngăn.

    Ðã bao lần muốn giang tay ra, cho đi nhiều hơn, nhưng có nuối tiếc bảo đừng.

    Vì thế, trong mơ ước có gian nan. Và, trên đường về với Chúa vẫn là khúc đường xa xăm.

    * * *

    Trong cuộc sống, những giấc mơ chưa trọn vẹn là những giấc mơ buồn. Vì không trọn vẹn nên mới buồn. Nhưng đặc tính của những giấc mơ buồn lại thường là những giấc giấc mơ lớn. Vì lớn nên mới khó trọn vẹn. Bởi đó, cái buồn của giấc mơ không trọn vẹn dường như vẫn là cái buồn giá trị, giá trị vì nó mang một hoài bảo rất cao.

    Cái không trọn vẹn đó thúc bách, mời gọi đi tới. Con đường tình yêu không bao giờ có giới hạn thì giấc mơ tình yêu không bao giờ cùng. Do đấy, chưa trọn vẹn trong ước mơ đi về với Chúa là chưa trọn vẹn dễ hiểu trong thân phận làm người của tôi nơi trần thế này. Ðường tình yêu càng dài thì giấc mơ tình yêu càng sâu. Tình yêu càng sâu thì trên đường ấy, tôi cần miệt mài đi mãi.

    Trên đường về với Chúa, tôi chỉ hỏi lòng tôi là tôi đã đi xa tới đâu, đã bay cao thế nào. Chứ không thể có câu hỏi tôi đã yêu Chúa trọn vẹn chưa. Từ ngàn xưa, Ngài đã biết hồn tôi là dang dở, những lời thề của tôi là những lời đoan hứa dập gẫy. Bởi đấy, tôi không thể yêu Ngài trọn vẹn nhưng Ngài đòi tôi đi về trọn vẹn.

    Trọn vẹn là một mơ ước. Dang dở vì chưa trọn vẹn có chiều sâu của nó là nó làm cho mơ ước tiếp tục còn là ước mơ. Tôi có thể cầu Chúa cho tôi đạt được mọi mơ ước không? Khi đạt được mọi mơ ước rồi thì tôi không còn mơ ước nữa. Không còn mơ ước thì còn gì để mà đi tới, còn gì để mà bay lên. Trong ý nghĩ ấy, đường về với Chúa nếu còn dang dở chỉ là lời gọi tôi đi tới. Mỗi lần sa ngã chỉ là bảo tôi nhìn lên cao. Tôi không thất vọng vì chưa đạt được mơ ước.

    Mơ ước đã được rồi là hạnh phúc đã được đóng khung trong một bến bờ. Tôi muốn thứ hạnh phúc vô cùng. Tôi muốn hoài mơ ước. Tôi muốn vào một không gian hạnh phúc mà càng bay cao thì càng bắt gặp trời thênh thang tự do. Càng bắt gặp thì càng si mê, càng si mê thì càng nuôi mộng đi tới nữa. Tôi tin rằng hạnh phúc ấy có thật. Ðó là chính Chúa. Bởi tôi biết, tôi không bao giờ uống cạn được ân sủng của trời cao. Vì thế, tôi không xin cho tôi đạt được điều tôi mơ ước mà chỉ xin cho tôi được mãi mãi, hoài hoài đi về Ngài, sống trung thành với mơ ước đó thôi.

    Và vì thế, linh hồn tôi có vì bất toàn mà lầm lỗi, thì đấy chẳng thể là lý do làm tôi thất vọng, xuôi lòng. Trên đường về nhà Cha, nếu vì yếu đuối mà dừng nghỉ. Thì, đường về nhà Cha có xa xăm thật. Xa xăm ấy vẫn là xa xăm có Chúa. Nếu vì sa ngã mà làm cho giấc mơ gian nan. Thì, đường về nhà Cha có gian nan thật, gian nan ấy vẫn là gian nan ấm lòng.

    * * *

    Lạy Cha,

    Cha cầu xin cho con không thuộc về thế gian, nhưng Cha đã chẳng đem con ra khỏi thế gian. Ngày nào con còn trong thế gian thì con còn nghe thấy tiếng dỗ dành của những rung cảm đam mê. Từ trong bào thai của mẹ, con đã là lỗi phạm. Con có thể vấp ngã vì bóng đêm, nhưng con có thể không thuộc về đêm tối. Con không thất vọng vì những đám mưa phùn làm con ướt cánh. Con không ủ dột vì bờ đá chênh vênh giữ chân con đi tới. Vì con biết, khi Cha dìu con thì tình trời sẽ sưởi ấm chiều mưa lạnh ảm đạm, và ân sủng sẽ gieo trên gai nhọn. Khi Cha dìu con thì ước mơ sẽ nên tha thiết, và dù có vất vả cánh ong vẫn bay về được với mật ngọt của hoa. Khi Cha dìu con thì con có thể trung thành. Khi Cha dìu con thì thánh giá sẽ là sức sống.

    Lạy Cha,

    Ðấy là mơ ước và cũng là lời cầu nguyện của con trên đường về.

    Nguyễn Tầm Thường
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Muộn màng

    “Ðêm đến, không ai có thể làm việc được nữa” (Yn. 9:4)

    Nói câu này, Chúa nhắc nhở môn đệ về thời gian. Ngày còn bé, ta mong thời gian chóng tới để mau làm người lớn.Tuổi xế chiều, ta mong thời gian chậm lại để khỏi mau chết. Ðâu là mốc thời gian đưa ta lên, đâu là khởi điểm kéo ta xuống? Thời gian không lên tiếng nói. Người ta sống quá thường trong thời gian, vì thế người ta ít để ý về thời gian.Thực tế, giữa ta và thời gian là một tiếp cận cọ sát không ngừng. Một cuộc giằng co không ngơi nghỉ giữa sống và chết. Kinh nghiệm về thời gian thường là những kinh nghiệm nuối tiếc. Muộn màng.

    Muộn màng trong thời gian vật lý là muộn màng không thể lấy lại. Người ta thường nhủ lòng mình bằng những lý luận xem ra là hay, nhưng sét kỹ hơn, có lẽ phải đặt lại cái nhìn. Thí dụ, hôm nay tôi không muốn đọc kinh, tôi thường nhủ lòng rằng ngày mai tôi sẽ đọc bù lại gấp đôi. Mỗi ngày tôi sản xuất hai ký bột. Hôm bù lại gấp đôi. Mỗi ngày tôi sản xuất hai ký bột. Hôm nay không làm thì ngày mai tôi sản xuất bốn ký, gọi là bù lại hai ký hôm qua. Rồi tôi hài lòng về thái độ ấy. Xét về số lượng theo kinh tế sản xuất thì xem ra đúng lắm. Và luận cứ này cho ta an tâm. Nhưng xét theo khía cạnh thời gian thì vẫn có những vướng víu, cần suy nghĩ lại.

    Làm sao mà nói có thể “bù” được, mất là mất. Những gì mất ở hôm qua là hôm qua trọn vẹn không có. Hôm qua, trên khung cửi ấy không có đường tơ. Những mũi chỉ thêu trên tấm thảm hôm nay là của ngày hôm nay. Ta không thể lấy mũi chỉ ngày hôm nay, quay về may vào tấm thảm thời gian hôm qua.

    Khi nói làm”bù” lại những gì hôm qua không làm, đấy chỉ là một cách nói an ủi lương tâm. Hành động làm “bù”, thật ra chỉ là làm “đủ” cái ta phải làm. Ly nước đã đầy thì người ta không thể đổ thêm. Khi đổ thêm được, đấy là dấu ly nước còn vơi, và phần đổ “thêm” ấy, chẳng phải là thêm, mà chỉ là “đủ” cho ly nước mà thôi. Thí dụ tình yêu và lòng hiếu thảo là một ly nước.Tôi phải sống trọn vẹn tình yêu, và lòng hiếu thảo ấy như một ly nước đầy. Hôm qua tôi đã không hiếu thảo đủ, hôm nay hối hận, tôi hiếu thảo “thêm”. Nếu hôm nay tôi hiếu thảo trọn vẹn như tôi phải sống, nghĩa là ly nước hiếu thảo hôm nay phải đầy, như thế, tôi hiếu thảo “bù” thêm vào đâu được?

    Cứ thường, ta không sống trọn vẹn ly nước cuộc đời ta phải sống. Ngày nào nó cũng vơi. Ta không nhìn thấy cái vơi này. Thí dụ, hôm qua ly nước tình yêu trong gia đình của ta cạn mãi gần đáy. Có thể đó là lòng nhỏ nhen, là gay gắt, là không chung thủy. Lúc ấy ta mới giật mình. Nhìn lại tâm hồn, ta nhủ thầm, ngày mai sẽ bù lại bằng tình yêu thương nhiều hơn. Hôm sau, để “bù” lại, ta có yêu thương thật. Rồi ta thấy mình hân hoan thơ thới.

    Thật ra, cái thơ thới hân hoan ấy chỉ là hành động sống đủ điều ta phải sống, chứ không bù thêm gì cả. Những gì đã mất vẫn mất. Nuối tiếc phần đã mất hôm qua làm ta chua xót, rồi sự chua xót ấy xát vào lương tâm làm ta hối hận. Cái đau nhức này là sức mạnh đẩy ta sống “đủ” điều ta phải sống hôm nay. Không có cái hối hận này, có thể ta lại chỉ sống nửa ly nước thôi. Ta không sống đầy ly nước cuộc đời mà ta phải sống. Hằng ngày, ta sống nửa chừng. Hôm trước quá vơi, hôm sau ta “bù” bằng cách sống đầy. Xét kỹ, ly cuộc đời, có thể là ly nước tình yêu, ly nước trách nhiệm, ly nước trí tuệ của mỗi ngày, nếu ta sống trọn vẹn như ta phải sống thì ly nước ấy tự nó đầy rồi, còn chỗ nào mà “bù” mà “thêm” được nữa.

    * * *

    Ngày rời làng quê, tôi như cây tre vừa chớm lớn. Ngày trở lại, hình ảnh cũ còn đó, mà sao đất trời đổi thay nhiều quá. Chung quanh không còn những cây tre già che gió. Biết bao người đã khuất bóng, về thế giới bên kia. Ai cũng có những dấu ấn thời gian trong đời sống. Nhìn lại những dấu ấn ấy cũng có lúc cần thiết. Bởi không có sống “bù “, sống “thêm” những gì hôm qua ta đã không sống, nếu không nhìn lại dấu ấn quá khứ.

    Tuổi thơ ai cũng có những kỷ niệm thật thơ bé. Tôi dán kỷ niệm này vào một chiều cuối hè. Nó ngủ yên lặng trong một trang vở đời sống. Ngày đó, tôi đến chào bác tôi để về trường đi học lại. Tuổi thơ mà, trong hè rong chơi với nắng, với ruộng đồng cỏ dại, hết hè, bây giờ lại xa nhà, rồi bài vở thi cử, lòng sao mà bịn rịn. Những kỷ niệm bùi ngùi về tháng ngày nhập học, giờ nhìn lại thấy hồn nhiên làm sao. Nhưng kỷ niệm một chiều bên gốc cây đu đủ ở đầu nhà bác tôi, hôm nay nhìn lại không thấy êm ả. Nó ngủ yên trong trang vở cuộc sống đã mấy chục năm qua. Hôm nay, nó bóc đi cái hồn nhiên ngày cũ, thành cái muộn màng.

    Cứ sắp hết hè là tôi phải đi chào mọi người trong gia tộc để đi học xa. Các Cha ở nhà trường dạy như thế. Thấy cháu lại sắp đi xa thì cô, dì, chú, bác nào cũng hay cho tiền để làm hành trang lên đường. Còn bé, nhưng tôi đã mơ màng hiểu thế giới của người lớn. Có người cho tôi tiền, nhưng mục đích là cho mẹ tôi hay để quà tặng ấy như món nợ nói thầm cho mẹ tôi biết mà sử thế. Còn riêng bác, bác gọi tôi ra gốc cây đu đủ ở đầu nhà, bác dúi vào túi tôi tờ 20 đồng. Bác khuyên tôi ngoan ngoãn và chịu khó học để sau được “làm cha”. Bác không cho ai biết là bác cho tôi tiền. Tôi còn nhớ giọng của bác. Nó thành thật làm sao. Bác bảo bác không có nhiều tiền, khi nào có, bác sẽ cho. Bác làm tôi xúc động. Tôi tin lời bác ngay. Vì ai cũng thấy bác nghèo. Tôi vẫn thấy trưa nắng bác xách giỏ mò cua, tát cá ở những mương nước. Tôi nhớ rõ lắm cái dúi tay kín đáo ấy. Tôi nhớ rõ lắm cái giỏ tre và cái chậu nhôm để tát cá. Tôi nhớ rõ lắm cái nắng của một miền quê. Khi chợt nghe bác nói bác muốn cho tôi nhiều hơn mà bác không có. Lòng tôi chùng xuống. Tôi thấy cái nghèo trong gia đình bác bày ra trước mặt. Những cái ly cũ, cáu vết trà đựng trong chiếc đĩa nhôm không biết từ bao giờ. Mấy cái ghế đã phải đóng thêm nhiều đinh mà vẫn không chắc.Căn nhà xùm sụp tối. Chiếc màn gió ngăn riêng cái chái ngả màu, rách nhiều chỗ. Hình ảnh cuộc đời và căn nhà của bác tôi biết từ lâu, nhưng bấy giờ nó mới thổi mạnh và quất vào tâm thức tôi một thực tại rất cụ thể: Bác nghèo nhưng bác có tình thương đối với tôi. Tâm thức của tuổi thơ rất đơn sơ. Nó bảo tôi trả lại tiền cho bác đi. Tôi muốn ứa nước mắt. Tôi muốn bảo bác rằng:”Thôi, cháu không lấy tiền của bác đâu.” Nhưng tôi không nói được. Tôi không biết làm gì. Bác không cho thời gian để cái trí non dại ấy biết phản ứng. Bác xoa đầu tôi:”Cháu nhớ chịu khó học nhé.” Rồi đi vào nhà. Dường như bác cũng đọc đươc sự xúc động của tôi. Hay là bác cũng muốn tránh sự xúc động của chính bác vì thấy mình nghèo. Một tờ lịch rơi xuống vào lúc cuối ngày. Nhưng tờ lịch hôm đó không giống những tờ lịch khác. Có giọt nước mắt rơi theo.

    Về nhà trường, những tuần lễ đầu, nhiều tối tôi suy nghĩ vì thấy bác tội nghiệp quá. Bác thương mình mà bác nghèo. Tôi không ngờ kỷ niệm đó theo tôi mãi. Tôi dán tờ giấy hai chục vào cuốn nhật ký linh hồn. Cuốn sách mà Cha linh hướng bảo tôi cố giữ, viết những gì xẩy ra cho linh hồn, viết mỗi ngày một đoạn tâm sự với Chúa. Cuốn sách bé với những cành hoa tôi nắn nót tô màu ở mỗi đầu trang.Tờ giấy hai chục như một kỷ niệm trong hành trình tâm hồn của tôi tuổi mới lớn. Về sau này, tôi không còn tâm trạng hối hận, trách cứ mình sao đã không can đảm mà chối tư, dám nhận tiền của bác khi bác nghèo vậy.Tôi giã từ dần dần từng năm trung học. Cái suy nghĩ ngày xưa bé ấy theo thời gian thay vào một bình an mới. Cuốn nhật ký linh hồn kia thành những trang sách kỷ niệm tuổi thơ tôi cất vào ngăn kéo của quãng đời thứ nhất.

    Rồi đến ngày mặc áo dòng. Bắt đầu tập suy tư như người lớn. Có những ước mơ cho ngày mình làm người lớn. Khi trở lại cuốn nhật ký nhỏ, tôi ước mong có ngày là linh mục. Ngày đó, tôi sẽ khoe bác tờ giấy hai chục mà tôi đã ủi phẳng phiu giữ kỹ bao nhiêu năm. Nhưng thời gian có những định mệnh của nó. Tuổi trẻ ấy cũng là năm tháng của chiến tranh. Chẳng ngày nào không nghe tiếng súng vọng về. Rồi những gì phải đến đã đến. Sau những ngày lánh nạn, trở lại nhà xứ, tôi thấy đồ đạc vương vãi ngỗn ngang khắp cả. Tôi giật mình nghĩ đến cuốn nhật ký. Không còn nữa! Những tấm hình chụp, tất cả những gì tôi viết về tuổi thơ của tôi đã cháy theo chiến tranh. Trên thềm cửa, chung quanh nhà thờ, dưới tháp chuông, chỗ nào cũng có vỏ đạn sáng tính màu đồng. Những mũi đạn đã bắn đi thật xa rồi. Chỉ còn lại là những tút vỏ nằm im thôi. Ðầu đạn đã bay đi những đâu. Có ai ngã xuống. Nào ai biết có những mũi đạn vô hình bắn vào tâm hồn tôi. Tôi không muốn tin là những tấm hình kỷ niệm, những dòng chữ viết về tuổi thơ tôi bị mất. Nhưng định mệnh không bao giờ lên tiếng, nó im lặng phũ phàng như thời gian. Cái mơ ước có ngày làm linh mục rồi khoe bác về hai chục đồng đó không còn nữa. Cuốn nhật ký với tờ giấy bạc đã ra tro than, thản nhiên như sự chết. Tôi đứng giữa tro tàn nhìn lại thời gian mà thấy muộn màng mất rồi.

    Thời gian bao giờ cũng có những nhiệm màu khó hiểu. Mười mấy năm kỷ niệm ngủ bình an, ôm mơ mộng mị. Rồi, búng nhẹ một tàn bụi rơi xuống đường, thời gian như bước chân quay gót đi. Tôi không thể tìm lại được kỷ niệm đó, ngòaì những lúc nhìn về quá khứ với tiếc nhớ của thời gian ghi dấu trong tâm hồn.

    Rồi. Bỗng dưng một ngày tôi bỏ nước ra đi. Bỏ lại tất cả. Chỉ còn hành trang ước mơ là linh mục, mang theo trên lối tôi đi. Một hành trình ra đi khó hiểu nhất trong đời. Tôi nghĩ không bao giờ có ngày gặp lại bác tôi nữa. Thời gian đưa đất nước vào những ngày nghèo đói. Tôi không biết bác làm gì để sống. Tuổi đời già yếu theo tàu cau khô dần, lá trầu vàng rồi sẽ rụng xuống. Bác có còn xách chiếc ghỏ tre đi tát cá ven đường? Ðã xa quá rồi, tôi không thể hình dung được những gì xẩy ra ở nơi đấy.

    Thời gian đến. Ngày thụ phong linh mục, tôi nhận quà tặng, nhận hoa chúc mừng, nhưng tôi cứ nhớ đến hai chục đồng ở gốc cây đu đủ mấy mươi năm về trước. Buổi tối đó âm thầm làm sao. Rất vắng vì không ai biết.

    Thời gian, có những muộn màng. Thời gian, có những hiểu biết vuột tầm nhìn. Rồi, một ngày không ngờ, tôi hồi hộp biết bao khi được trở về quê cũ lần đầu tiên. Trong những quà tặng, tôi nghĩ đến bác già yếu. Tôi mua cho bác quà gì đây? Tôi biết mình không thể nhắc lại kỷ niệm mấy mươi năm cũ vì bác già rồi. Ðồng tiền đã cháy, chắc bác chả còn nhớ gì. Cái ngày tôi mới vào nhà sau gần 20 năm xa cách. Làm sao nói được. Có những khuôn mặt tôi thấy quen lắm mà không sao nhớ nổi. Ồn ào. Kẻ ra người vào. Cảm xúc mừng vui của dòng tộc. Con còn nhớ bác này không? Con có biết cô kia không? Trong cái tình cảm ồn ào ấy, tôi vẫn không quên người bác cũ. Tôi nghĩ bác phải già lắm rồi. Không biết ai là người đó trong đám đông hỗn độn này. Tôi đang có một trò chơi đi tìm người.

    Tôi đợi cho những ngày đầu tạm trôi đi. Tôi chờ những con sóng tình cảm tích lũy trong dòng tộc mười mấy năm qua dịu lại, rồi tôi sẽ thăm bác. Tôi sung sướng nghĩ bây giờ tôi có thể giúp bác một số tiền cho những tháng ngày cuối đời này của bác. Tôi sẽ im lặng giữ kỷ niệm cũ. Nhưng định mệnh có những nghiệt ngã riêng. Khi hỏi thăm thì người nhà cho biết bác ấy đã chết rồi. Câu trả lời như câu thông tin bình thường. Nhưng với tôi thì khác, tôi thấy bầu trời man mát như những sợi tóc bạc ngậm ngùi. Những lá trầu trong liên tưởng của tôi về hình ảnh bác đã thực sự rơi tàn theo đất ẩm.Tính nhẩm ra, bác chết trước tháng ngày tôi thụ phong linh mục không bao xa.

    Nhìn lại quá khứ đi qua. Tôi gọi những kỷ niệm ấy là muộn màng của thời gian.

    * * *

    Chúa hay nói về muộn màng của thời gian. Chẳng hạn câu chuyện người giàu có và Lazarô nghèo khổ. Chết rồi, người giàu có kia đối diện cuộc sống vĩnh hằng của mình. Ông muốn anh em ông biết cuộc sống đời sau thế nào để khi còn ở trần thế biết cách mà sống. Nhưng mọi sự đã xong. Ông muốn Lazarô đến cho mình chút nước để đỡ nóng. Nhưng trễ rồi. “Giữa chúng ta có một vực thẳm lớn, bên này muốn qua bên kia cũng không được, mà bên kia muốn qua bên này cũng không được”(Lc. 16:26). Rồi câu chuyện hồng thủy. Người ta ăn uống chời bời, cho đến ngày Noe vào tàu và họ chẳng biết. Họ bị hồng thủy cuốn trôi đi tất cả. Biết dòng nước dâng thì quá muộn. Câu chuyện mười cô trinh nữ đi đón chàng rể cũng thế. Năm cô khờ dại đem đèn mà không đem dầu theo. Lúc đi mua dầu thì chàng rể tới (Mt. 25:1-13). Trở lại, cửa đã đóng. Thời gian, ôi! lại muộn màng nữa rồi.

    * * *

    Lạy Chúa, những giây phút con hay nhủ lòng rằng con sẽ làm bù ngày mai điều con phải làm hôm nay là con đang dối lòng đấy thôi. Thiệt thòi biết bao. Xin cho con lấy những hối tiếc quá khứ mà cho lòng mình tiếc xót để con sống trọn một ngày con phải sống. Sống đầy ly nước tình yêu, ly nước lòng hiếu thảo, ly nước trí tuệ. Và, những muộn màng trong đời phải nhắc con đừng để muộn màng ngày cuối đời của mình, một thứ muộn màng thiêng liêng liên quan đến hạnh phúc đời đời.

    Nguyễn Tầm Thường
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Khi nào ngày bắt đầu?

    Khi nào ngày bắt đầu?

    Lúc nào đêm bắt đầu? Khi nào ngày chấm dứt?

    Bình minh lên, đêm lui dần. Ðó là lúc ngày bắt đầu hay là lúc đêm chấm dứt?

    Mặt trời lên đến đâu, bóng tối lùi dần đến đó. Ta bảo đấy là ngày bắt đầu. Mặt trời lùi đến đâu, bóng tối dâng lên đến đó. Ta bảo đấy là đêm. Vị đạo sĩ hỏi người học trò:

    -Ðâu là lằn mức giữa đêm và ngày? Lúc nào ngày bắt đầu? Lúc nào đêm chấm dứt?

    Người học trò nhíu mày suy nghĩ. Vị đạo sĩ bảo người học trò vẽ lằn mức mặt trời mọc đến đâu là ngày, chia ranh giới lúc nào là hết đêm.

    Im lặng, nhíu thêm đôi mày suy nghĩ. Thời gian trôi qua. Không ngờ câu trả lời khó vậy. Người thanh niên thầm nhủ: “Ta nhìn bình minh biết bao lần, thức dậy biết bao buổi sáng, mấy mươi năm trong đời chưa một lần phân biệt: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?

    Khi viết dòng nay, tôi cũng mới chợt tỉnh câu hỏi của nhà đạo sĩ. Mấy mươi năm làm người, chưa bao giờ nhìn buổi sáng hỏi chân trời lúc nào gọi là ngày, hỏi lòng mình lúc mắt trời mọc đến đâu là hết đêm. Câu hỏi không dễ trả lời.

    * * *

    Tôi đang ở Kanniyakumari, cực nam của miền đất Ấn Ðộ, cũng gọi là Cape Comorin. Nơi gặp nhau của ba dòng nước lớn, vịnh Bengal, Ấn Ðộ dương và biển Arabian.

    Tôi muốn đến đây vì mỏm đá sau cùng của Ấn Ðộ để nhìn ba dòng biển ấy gặp nhau và nhìn mặt trời. Nhiều du khách tìm đến đây cũng vì lý do ấy. Ðứng quay lưng lại lục địa, trước mặt là Ấn Ðộ dương, phía trái là vịnh Bengal, phía phải là biển Arabian. Ðiều đặc biệt nơi đây, khi trăng lên phía Ðông ở vịnh Bangal, mặt trời xuống phía tây bên biển Arabian, cả hai đều tròng trành trên biển đối diện nhau. Ðây là nét đẹp của biển, của trăng, của mặt trời trên trái đất mà du khách gặp mặt cùng một lúc. Sóng nước dạt dào vô cùng tận. Bên đông trăng lên. Bên tây mặt trời xuống. Dang hai cánh tay, ta sẽ hứng cả trăng và trời.

    Lung linh, một quả cầu tròn đỏ ối rực xuống biển cả. Du khách đến đây chiêm ngưỡng mặt trời lặn. Tôi có mặt trong đám người đó chiều ngày mồng 5 tháng 4, năm 2001.

    * * *

    Sau thời gian suy nghĩ, người học trò không sao vẽ được lằn mức giữa ngày và đêm. Anh đánh bạo trả lời tôn sư:

    -Thưa Thầy, lúc mặt trời cho con đủ ánh sáng phân biệt được con chó khác con mèo, đó là ngày.

    Vị đạo sĩ lắc đầu, hỏi người học trò:

    -Phân biệt con chó khác con mèo, nhưng đủ ánh sáng để phân biệt cành trúc khác cành tre không?

    Người học trò im lặng chưa biết nói gì. Tôn sư anh ta lắc đầu nói tiếp:

    -Ðấy không phải tiêu chuẩn phân biệt ngày và đêm con ạ. Ðủ ánh sáng phân biệt con chó với con mèo, nhưng bao nhiêu ánh sáng mới đủ phân biệt cây trúc với cây tre? Vả lại gần bao nhiêu thì rõ để gọi là chó, xa bao nhiêu là tối để có thể lẫn là mèo.

    Sau cùng, người học trò tự thú:

    -Thưa Thầy, từ lúc Thầy đặt câu hỏi con mới để ý khi mặt trời mọc. Con không vẽ ranh giới được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm kết thúc. Con thức giấc mỗi sáng mà không biết lúc nào gọi là ngày, lúc nào hết đêm.

    -Con ạ, cuộc đời nhân gian đêm nhiều hơn ánh sáng. Người ta không tỉnh thức nên sống trong đêm tối mà cứ ngỡ ban ngày. Người ta thức dậy mỗi ngày mà không biết ngày bắt đầu lúc nào, làm sao gọi là thức dậy?

    Người học trò im lặng trong ý nghĩ riêng tư, hỏi nhà đạo sĩ:

    -Thưa Thầy, người ta không quả quyết được lúc nào đêm chấm dứt. Có phải ý Thầy muốn nói như thế, thức dậy cũng chưa chắc là hết bóng đêm không?

    -Ðúng thế, con ạ. Thầy muốn dạy con hai điều. Ðiều thứ nhất, con đã phí phạm biết bao bình minh, mấy mươi năm trong đời nhìn mặt trời mà không biết đâu là ngày, đâu là đêm. Ðiều thứ hai, ngày tháng còn lại của con, con phải trả lời câu hỏi của Thầy: Lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?

    Bao nhiêu năm thiền niệm trên ngọn núi này, ngày ngày Thầy nhìn mặt trời mọc trên biển tìm câu trả lời. Thầy thức giấc nửa đêm trăn trở vì câu hỏi ấy.

    Thầy ra ghềnh đá chờ ánh mặt trời, Thầy lấy hết tâm trí nhìn bóng tuối lui dần mà không vẽ nổi lằn ranh biên giới lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Cho đến một ngày kia....

    Nói đến đó nhà đạo sĩ im lặng. Mắt ông ngời sáng, nhìn về xa xôi về phía chân trời. gười học trò lắng nghe.

    * * *

    Bạn thân mến, có khi nào bạn nhìn mặt trời buổi sáng với câu hỏi của nhà đạo sĩ kia chưa? Mặt trời chưa mọc mà hừng sáng, ta chưa gọi là ngày được, vẫn còn bóng tối, ta bảo đó là hừng đông. Hừng đông là đã có chút ánh sáng nên cũng không thể gọi là đêm được nữa. Từ cái mềm mại như ngọn chuối non đến mầu xanh biếc của tàu chuối già, từ cái xanh nhẹ của ngọn mạ đến màu già dặn của lúa, đâu là lằn mức phân biệt? Mặt trời lên dần, vũ trụ ngái ngủ trở mình. Ta chưa gọi là ngày cho đến khi cái ngái ngủ kia thành thức tỉnh. Ánh sáng làm cho cái mềm ẻo của thời gian mơ hồ thành ngày. Nhưng đâu là biên cương giữa ngày và đêm?

    Ta thấy trong cuộc đời dường như cũng thế. Ðâu là tiếp nối giữa hạnh phúc và đổ vỡ? Bao nhiêu hạnh phúc hôn nhân lúc ban đầu đẹp vậy mà ít năm sau, ta nghe những chuyện buồn, ta ngỡ ngàng thở dài nghe bạn bè cho hay tin, họ ly dị rồi. Ðời người cũng thế. Có khi mình đang đặt sai về những giá trị cuộc sống mà chẳng biết. Ðến khi hối tiếc, đã quá muộn màng. Ðâu là biên giới của sắp sa ngã và sa ngã?

    Không phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, khi nào đêm chấm dứt, làm sao phân biệt được lúc nào ngày chấm dứt và đêm sắp bắt đầu? Thứ đêm và ngày trong ý nghĩa thiêng liêng. Làm sao phân biệt được khi nào hạnh phúc đang phai mờ và đổ vỡ đang đến? Làm sao phân biệt lúc nào giá trị thiêng liêng đang chấm dứt và giá trị trần thế đang lấn chiếm?

    Có khi ngày đang hết, đêm xuống dần mà không hay. Ta chần chừ tưởng đời mình còn dài, trước ngưỡng cửa hoàng hôn mà cứ gọi là ngày.

    Có khi trước bóng đêm mà ta thản nhiên không phải ngày còn dài mà chỉ vì không phân được khi nào là đêm bắt đầu.

    Ðường thiêng liêng của linh hồn hay những chuyện tình cũng thế thôi. Họ không biết lúc nào vào bóng đêm, vì không biết tâm tình mình đang đi về đâu. Hoàng hôn mà ta cứ tưởng là ngày.

    * * *

    Ðợi người học trò thật yên tĩnh, nhà đạo sĩ nói với môn sinh ông ta:

    -Con ạ, thật sự không thể vẽ lằn mức được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt!

    Người học trò như ngạc nhiên, chăm chú lắng nghe. Tôn sư ôn tồn xác định lần nữa câu nói của ông bằng cách cắt nghĩa cho người học trò:

    Không thể phân biệt được biên giới giữa đêm và ngày cũng như không phân biệt được bao nhiêu của cải là hạnh phúc, thiếu bao nhiêu là chưa đủ?

    Ngập ngừng đôi giây, vị đạo sĩ nói như lời tâm sự thân tình với học trò mình:

    -Thách đố bởi câu hỏi khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt. Thầy mải mê đi tìm trong văn chương triết học, trong thần bí niệm tu, cho đến một ngày biết mình không còn sống bao lâu mà vẫn không tìm được câu trả lời. Lúc đó Thầy buồn khôn tả, biết mình nhỏ bé trước biển cả và mặt trời. Thầy cúi đầu xin Thượng Ðế cho Thầy được chết bình an. Thầy xin Thượng Ðế cất đi câu hỏi đã dằn vặt Thầy. Thầy không còn cách nào trả lời câu hỏi ấy. Trong văn chương triết học, Thầy đã thất vọng, trong thần bí miệm ty, Thầy đã ráng sức cả đời. Càng suy nghĩ càn thấy mình nhỏ bé, sau cùng, Thầy chỉ còn biết xin Thượng Ðế thương xót, đừng hỏi nữa cho tâm hồn Thầy thảnh thơi.

    Khi nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt?

    Không trả lời được con ạ. Ðâu ngờ, chính lúc Thầy xin Thượng Ðế cất câu hỏi ấy đi, Ngài lại trả lời cho Thầy. Một ánh sáng êm dịu vô ngần nhẹ nhàng đậu xuống linh hồn Thầy, cho Thầy một trí hiểu đơn sơ, một niềm vui kín đáo, một năng lực sống trọn vẹn vì một khám phá: Ðời quá đẹp.

    Nói tới đó, nhà đạo sĩ như phiêu du vào một vùng trời rất đỗi bình an. Người học trò chăm chú kỹ hơn, lắng nghe.

    Con ạ, Thượng Ðế nói trong linh hồn Thầy rằng, lúc nào Thầy nhìn con, thấy bóng dáng Thượng Ðế trong con, lúc nào Thầy nhìn ai cũng chỉ nhìn thấy là bạn hữu, đó là ngày! Lúc nào Thầy nhìn người tức giận, ghét bỏ, tham lam, thù hận đấy là đêm!

    Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là lòng từ ái nhân hậu.

    Ði giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lý, chỉ có lòng từ ái bao dung.

    Ông nhìn người học trò rất đỗi nhân ái mến yêu.Từ từ nhắm mắt. Im lặng, linh thiêng và bình an, ông lặng lẽ xuôi hồn về thế giới bên kia.

    Ông đã chết.

    Ông về với ánh sáng, nơi chỉ có ngày, không còn đêm nữa. Ông ra đi, để lại cho người học trò câu trả lời lúc nào là đêm, lúc nào ngày bắt đầu.

    * * *

    Người học trò vĩnh viễn xa tôn sư. Vị đạo sĩ chết bình an sau khi để lại cho người học trò ánh sáng mà ông đã kiếm tìm.

    Ngày đó anh ta vui mừng vì được câu trả lời không phải vất vả tìm kiếm cả một đời như tôn sư anh. Xa Thầy, người học trò cặp sách vào đời. Chả bao lâu sau khi tôn sư chết, một chiều nọ nhìn mặt trời xuống biển, một sáng kia thấy mặt trời mọc trên đầu núi, nhìn lại câu trả lời của Thầy, anh bất giác nhận thấy đấy chỉ là tìm kiếm của riêng Thầy.

    Ðâu là câu trả lời của riêng ta?

    Anh tự hỏi vậy. Nếu lòng nhân ai bao dung là ánh sang phân biệt đêm và ngày, ta có lòng nhân ái không? Câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?

    Nhìn ánh bình minh sắp lên, trên triền núi đá sương đêm đang mờ mờ tan. Lúc nào ngày tâm linh bắt đầu, lúc nào đêm thiêng liêng chấm dứt?

    Nghĩ đến câu trả lời của tôn sư: “Ánh sáng phân biệt đêm và ngày là lòng từ ái nhân hậu hay oán thù nhỏ nhen. Ði giữa ban ngày trong trái tim trĩu nặng, vẫn là đêm, con ạ. Ngày và đêm không thể phân biệt bằng ánh sáng vật lý, chỉ có lòng từ ái bao dung.” Anh ta phân vân hỏi lòng:

    Ðó là câu trả lời của Thầy.Thầy đã đem một đời tìm câu trả lời ấy. Còn câu chuyện hạnh phúc riêng linh hồn ta, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?

    Anh tưởng rằng Thầy đã trả lời giùm. Không thể phân biệt được lúc nào ngày bắt đầu, lúc nào đêm chấm dứt bằng ánh mặt trời, mà bằng bao dung của con tim. Ngày ấy anh chợt vui vì câu trả lời không cần tìm kiếm. Nhưng nỗi nhẹ nhàng của tấm lòng lịm tắt ngay. Thầy hiểu thế trong trái tim và cuộc sống của Thầy. Còn chính ta, lòng ta có bao dung và ngày có bắt đầu? Câu trả hời của Thầy chỉ là gợi ý cho trí hiểu, còn chính ta, đời ta là ngày bắt đầu hay ngày đang chấm dứt? Ta phải tìm câu trả lời cho riêng ta.

    Anh lại trăn trở, cây hỏi ấy không đơn giản, và biết mình sẽ phải đem theo cả đời để trả lời câu hỏi ấy.

    Vị đạo sĩ đã bỏ những ngày thách đố chính mình ngồi nhìn hoàng hôn, bỏ những ngày dõi theo ánh bình minh. Ông quay về tìm ánh sáng trong cõi lòng. Tìm được rồi, ôn bình an bỏ luôn cõi đời bước vào ngày ngàn thu vĩnh cửu. Nơi chỉ còn ánh sáng không còn đêm.

    Rồi tôi cũng từ giã vùng biển Comorin. Trên chuyến xe đò về hướng Bắc tôi sẽ bỏ lại biển cả và mặt trời. Tôi biết ngày mai, rồi tiếp tục ngày mai nữa, thế kỷ nữa và nhiều thế kỷ nữa du khách sẽ kéo nhau ra mỏm đá này nhìn mặt trời. Trong trái tim mỗi đời người, trong chuyện tình cuộc sống của họ, ngày đang bắt đầu hay đêm đang bắt đầu?

    Ngày mai tôi lên đường. Ðến lúc tôi phải bỏ lại biển cả và mặt trời, bỏ lại ghềnh đá và dòng nước, giữ lại trong tâm tư thôi vì nếu không, làm sao tiếp tục cuộc hành trình.

    Nguyễn Tầm Thường
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tuesday, April 12, 2005

    Điệu ca của người mù

    Điệu ca của người mù

    Tôi vào đời không có màu sắc. Tôi đi trong biển đêm không giới hạn hoàng hôn hay bình minh. Cuốn lịch của tôi chỉ có một tờ, dài bằng cuộc đời. Tờ lịch mở ra là ngày sinh và bóc đi là ngày chết. Chiều lên hay chiều xuống, rừng thay mùa đổi lá, thửa vườn tôi vẫn không đổi thay. Bốn mùa đời tôi chỉ có vậy, vang vang một cung điệu trầm của bóng tối, ngày lẫn vào đêm.

    Tôi vào đời trong không gian không có hinh dáng. Mây về ngang trời hay mây đi xa, mùa thu êm ả hay hoa xuân rạo rực trên đồi, không gian tôi vẫn thế. Tôi không biết gần, không biết xa. Chung quanh tôi có khi cận kề mà như xa tít tắp. Có khi xa lắm mà lại như bên cạnh.

    Tôi dò dẫm cuộc đời trong bước chân rất chậm. Tôi tìm tôi trong cuộc sống bằng tiếng nói của con tim chứ không thể bằng con mắt.

    Bởi tôi mù, tôi không bao giờ biết thế nào là ánh sáng, nên ánh sáng của tôi là một thứ ánh sáng không nắm bắt được bằng ánh mắt của xác thân. Cứ mặt trời lên, mặt trăng về là vũ trụ tuần tự lên xuống theo ánh sáng. Ánh sáng trong trí tuệ mà thôi. Bởi thế, những gì con người nhìn thấy và gọi là ánh sáng thì không phải ánh sáng của tôi. Không so sánh được với ánh sáng thì bóng tối của tôi cũng khác. Do đấy, bóng tối của tôi cũng khác xa bóng tối được xác định bằng nhãn quang của con người. Lương tâm tôi xác định bóng tối cho tôi.

    Với thân phận mù lòa, con mắt của tôi không phải là ngôn ngữ định nghĩa về bóng tối và ánh sáng. Tôi đi tìm ánh sáng và bóng tối trong lương tâm và trí tuệ

    Từ bóng tối và ánh sáng trong tim tôi, tôi vào đời bằng điệu ca của người mù, điệu ca cũng đến từ con tim nơi tôi suy niệm về bóng tối và ánh sáng đó. Ðây là bài ca:

    -Xin thương xót tôi! Xin thương xót tôi!

    -Xin thương xót tôi! Xin thương xót tôi!

    Tôi là người mù nên bị xếp chung một loại với những người mù khác. Mở Phúc Âm để nhìn lại những bức ảnh của người mù, người ta sẽ thấy bốn trường hợp Phúc Âm nhất lãm ghi lại cũng là bốn lần chúng tôi hát điệp khúc ấy.

    Trong Tin Mừng Mátthêu lần thứ nhất:

    Khi Ðức Kitô ra khỏi đó thì có hai người mù theo Ngài mà kêu rằng: “Lạy Con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mt. 9:27)

    Trong Tin Mừng Mátthêu lần thứ hai:

    Có hai người mù ngồi ở vệ đàng; nghe biết Ðức Kitô đi ngang qua, thì họ kêu rằng: “Lạy con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mt. 10:29-30)

    Trong Tin Mừng Máccô:

    Con của Timê là Bartimê, một người mù ăn xin, ngồi ở vệ đàng. Nghe biết là Ðức Yêsu Nazarét đó, thì hắn lên tiếng kêu rằng: “Lạy con vua Ðavít, xin thương xót chúng tôi!” (Mc. 10:46-47)

    Trong Tin Mừng Luca:

    Có người mù nọ đang ngồi ăn xin ở vệ đàng. Nghe có đông người đi ngang qua, hắn dò hỏi cho biết chuyện gì thế. Người ta cho hắn biết là có Yêsu Nazareth ngang qua. Và hắn la lên rằng: “Lạy con vua Ðavit, xin thương xót chúng tôi!” (Lc. 18:35-38)

    Những người mù chúng tôi không có bài ca nào khác. Trước chân dung Ðức Kitô, chúng tôi chỉ có điệu ca duy nhất. Chúng tôi chỉ lập đi, lập lại mãi:

    -Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!

    Chúng tôi không nhìn thấy khuôn mặt của Ðức Kitô. Bao nhiêu người đã chứng kiến dấu lạ Ngài làm và tin Ngài. Ðối với kẻ mù lòa như chúng tôi, niềm tin của chúng tôi cũng khác lắm. Vì không bao giờ nhìn thấy, bởi đó, chúng tôi kiếm tìm niềm tin dựa vào lòng thương xót. Chúng tôi không thấy dấu lạ. Chúng tôi chỉ tin rằng Ngài có lòng thương xót. Và hễ nghe tin Ngài sắp đi ngang qua là chúng tôi kêu lên:

    -Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!

    Ngày ngày ngồi ở vệ đường xin ăn, tôi chỉ biết về Ðức Kitô bằng cách lắng nghe tiếng người qua lại chuyện trò. Một người mù trong nhóm chúng tôi bị kết tội là do tội lỗi của cha mẹ hắn ta, hoặc có thể tội riêng hắn mà phải mù. Ngài bảo rằng không phải tội của ai cả. Nhưng là để quyền năng Thiên Chúa được tỏ hiện (Yn 9:1-41). Ðấy, Ngài lại có lòng thương xót.

    Ngồi ở vệ đường, tôi nghe kể về Ðức Kitô đã đến với những kẻ khốn cùng như chúng tôi. Bị trách là tại sao vào thăm nhà những người thu thuế tội lỗi, thì Ngài bảo là người đau yếu mới cần thầy thuốc (Mc. 2:15-17). Gặp kẻ khốn cùng vì câm điếc, mù lòa, tật nguyền là Ngài xót thương họ ngay (Mt. 15:29-31). Bao nhiêu lần Ngài cứu chữa những người còng lưng, bất toại trong ngày Sabat (Mt. 12:9-14). Ngài không bảo chúng tôi về, ngày mai hãy tới vì Ngài phải coi ngày Sabat trọng hơn sự khốn khổ của chúng tôi. Lòng thương xót của Ngài không bao giờ là tình thương được định theo thời khóa biểu.

    Ngồi bên vệ đường, tôi suy nghĩ về lòng xót thương. Tôi thấy lòng thương xót nào mà không phải chờ đợi bằng chương trình của những thời khóa biểu thì đấy là lòng thương xót thật. Tôi thấy chỉ vì thương xót chúng tôi mà Ngài mất đi niềm thương xót của các thầy tư tế, các kinh sư.

    Cũng như những tháng ngày ngồi bên vệ đường, cũng bằng con tim thôi, tôi thấy lòng thương xót nào mà sẳn sàng chịu thương đau với người mình thương xót thì đấy là lòng thương xót thật. Những ngày thinh lặng bên chợ đời, cũng chỉ bằng con tim, tôi nhìn thấy chân dung Ngài. Làm sao màu sắc có thể vẽ được lòng thương xót? Tôi chỉ vẽ hình ảnh Ngài bằng điệu ca:

    -Xin thương xót chúng tôi! Xin thương xót chúng tôi!

    Những lời kêu của chúng tôi làm người chung quanh nhàm chán lắm: “Những kẻ đi trước quát bảo hắn im đi” (Lc. 18:39). Ðức Kitô không bao giờ chán nghe điệu ca ấy, không bao giờ từ chối bài ca của người mù chúng tôi. Ngài biết từng bước lần mò trong đời sống của kẻ mù lòa tội nghiệp như thế nào. Ngài không từ chối tiếng gọi của chúng tôi, vì trong điệu ca, chúng tôi đã gọi đúng tên của Ngài.

    Tên Ngài là Ðấng hay xót thương. Và niềm tin của chúng tôi là tin Ngài là Ðấng hay thương xót.

    * * *

    Lạy Chúa, đọc trong Phúc Âm nhất lãm, chúng con đã thấy bốn trường hợp nhắc đến người mù là bốn lần có điệp khúc “xin thương xót chúng tôi.” Hôm nay, lập lại bài ca thương xót trước mỗi lần dâng lễ:

    -Xin Chúa thương xót chúng con. Xin Chúa Kitô thương xót chúng con!

    Là chúng con lập lại bài ca của người mù thủa xưa. Nhắc tới ánh sáng người mù đã nhìn thấy là lập lại lòng thương xót của Chúa. Họ đã nhìn thấy một tên gọi đẹp nhất để gọi Chúa: Chúa là Ðấng hay thương xót.

    Ngày nào con yêu điệp khúc đó trong đời con là ngày đó con hạnh phúc. Nếu con không biết Chúa là Ðấng thương xót con, con sẽ lạc lõng.

    Lạy Chúa, mỗi lần đi lễ, nghe điệp khúc ấy, con muốn Chúa cho con trong niềm tin, cậy, mến nói với Chúa rằng: Con hạnh phúc vì Chúa luôn thương xót con.

    Nguyễn Tầm Thường
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tiếng Nói Của Thinh Lặng

    Tiếng Nói Của Thinh Lặng

    Truyện kể rằng:

    Trước khi ông Moisê dẫn dân Do Thái ra khỏi cảnh nô lệ Ai Cập, người phải qua một thời gian huấn luyện dưới sự chỉ giáo của một thầy dạy. Kỷ luật đầu tiên mà Moisê phải tuân giữ, là sự im lặng tuyệt đối trước bất cứ điều trái ý nào.

    Một hôm, hai thầy trò đi du ngoạn tại một miền quê có đồi núi hùng vĩ, cây cối xanh tươi, hoa cỏ muôn màu muôn sắc, sông nước trong mát. Nhưng Moisê cũng phải im lặng không dám mở miệng khen ngợi.

    Ðến gần bờ sông, Moisê thấy một đứa bé đang chìm dần xuống nước, trong khi đó người mẹ trên bờ sông không biết làm gì hơn là khóc than thảm thiết.

    Moisê không cầm lòng được trước cảnh tượng đáng thương đó, liền buột miệng nói:

    Thầy không thể làm gì để cứu đứa bé được chăng?

    Thầy giáo bảo Moisê hãy giữ im lặng.

    Moisê cắn lưỡi giữ yên, nhưng cảm thấy áy náy trong tâm hồn. Ông tự nghĩ, không lẽ thầy mình lại có tấm lòng chai đá như vậy hay sao? Hay là chỉ vì bất lực không thể cứu giúp người gặp cảnh khó khăn được? Mặc dù Moisê không dám nuôi những tư tưởng xấu về thầy mình, nhưng lại rất khó mà xua đuổi những tư tưởng ấy đi.

    Hai thầy trò lặng lẽ tiếp tục tiến về phía biển. Ðứng trên bờ biển, Moisê thấy chiếc thuyền nhỏ lao đao, vật lộn với sóng lớn và đang chìm dần với cả nhóm thủy thủ. Moisê kêu lên:

    Lạy thầy, xin hãy nhìn xem kìa, chiếc thuyền nhỏ đang chìm dần.

    Một lần nữa thầy giáo ra hiệu cho Moisê phải giữ im lặng. Moisê không dám nói gì thêm nữa, nhưng trong lòng không khỏi phân vân lo lắng.

    Khi hai thầy trò trở về nhà, Moisê liền đem sự việc đến bàn hỏi cùng Chúa.

    Chúa phán: thầy con làm như vậy là có lý, đứa bé chết đuối trong nước sông, nếu không chết, lớn lên nó sẽ là tên tướng giặc gây chiến giữa hai quốc gia, và hàng ngàn người vô tội sẽ phải chết thảm thương. Còn chiếc thuyền nhỏ ngoài biển kia đang chở theo một bọn cướp hung dữ, chúng đang dự bị tấn công một làng nhỏ gần vùng biển. Nếu chúng không bị đắm thuyền, thì chúng sẽ cướp phá và giết hại dân làng vô tội.

    Các bạn thân mến!

    Các bạn đã nghe được tiếng nói của im lặng bao giờ chưa? Nó không phải là điều nghịch nghĩa. Sự thầm lặng nói với tiếng nói thâu suốt tâm lòng con người. Lời lẽ của nó thân tình và quan trọng. Quan trọng, bởi vì những lời lẽ đó dẫn đưa chúng ta đến chỗ suy tư với chính mình, lắng nghe tiếng nói của thiên nhiên, của vạn vật và của Chúa trong tâm hồn ta nữa.

    Tiếng nói của thầm lặng thúc đẩy chúng ta tìm hiểu sự chân thật, đồng thời cũng chỉ bảo chúng ta cách đối thoại với thực tại đang chờ đón ta. Sự thầm lặng sẽ giúp ta không bị hoa mắt trước những ảo mộng hão huyền, không bị mỏi mệt vì tiếng ồn ào huyên náo.

    Thỉnh thoảng chúng ta cũng cần phải rút lui và chính mình trong chốc lát, cho dù chỉ một vài phút để nghỉ ngơi tinh thần, để khám phá ra sự thật trong thinh lặng, để định hướng đi và đi vững vàng hướng dẫn bánh lái của cuộc đời ta.

    Lạy Chúa, này đây con xin ở im lặng trước nhan thánh Chúa, con nhìn Chúa và con biết rằng Chúa cũng đang nhìn con. Chúa thấu tỏ mọi sự, xin hãy nói và con sẽ lắng nghe với tất cả tâm hồn, tất cả trí khôn con. Xin hãy truyền cho sóng gió của dục vọng, của ham muốn trong đời con, phải lặng tĩnh để tâm hồn con trở nên phẳng lờ, trong sáng có thể phản ảnh dung nhan Chúa, để con biết nhìn mọi sự việc với cái nhìn của Chúa, cái nhìn của lòng tin yêu Chúa, phó thác trong sự quan phòng đầy khôn ngoan của Chúa. Amen.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tiền Bạc

    Tiền Bạc

    Tại một tiệm bán thực phẩm cho các loài chim kia, vì muốn thu hút khách hàng, nên ông chủ tiệm bắt được con phượng hoàng đem nhốt vào cái lồng lớn đặt trong tiệm.

    Một hôm, có hai ông cháu từ miền núi xuống thành phố mua đồ. Khi đi ngang qua tiệm, vừa trông thấy con chim phượng hoàng bị nhốt trong lồng, ông ta động lòng thương hại, liền ngỏ ý với ông chủ tiệm xin mua con chim ấy.

    Không để mất cơ hội, ông chủ tiệm đòi giá tiền thật cao.

    Không một lời trả giá, người khách hàng đi thẳng tới nhà ngân hàng, rút số tiền cần thiết và trở lại tiệm mua chim phượng phoàng. Ông ta vui mừng ẵm con chim trên tay bước ra khỏi tiệm. Vừa bước chân tới quãng đường vắng, ông ta liền mở tay ra để chim được tự do bay bổng giữa bầu trời mênh mông của nó.

    Ngạc nhiên trước việc làm của ông, đứa cháu nhỏ tò mò lên tiếng hỏi:

    Thưa ông nội, tại sao ông lại sẵn sàng hy sinh một số tiền lớn như vậy để chuộc trả tự do cho con chim phượng hoàng ấy.

    Ông vui vẻ đáp:

    Cháu hãy ghi lòng tạc dạ điều này: trên đời, giàu sang không chỉ căn cứ trên những gì mình có thể chiếm đoạt được mà thôi, nhưng chính là trên những gì mình cần phải cho đi, để có thể thực hiện được điều tốt lành cần phải làm.

    Người ta thường nói:

    "Có tiền mua tiên cũng được".

    Ðiều đó nói lên giá trị và quyền lực của tiền bạc. Tuy nhiên, tiền bạc chỉ có giá trị của nó nếu được dùng đúng đắn, tức là khi chúng ta biết để nó nên như đứa đầy tớ chứ đừng để nó làm chủ chúng ta. Bởi vì tiền bạc có thể là đầy tớ tốt lành nhưng lại là ông chủ rất độc tài ác nghiệt.

    Người ta có thể dùng tiền bạc làm giá đổi lấy quyền tự do, nhưng người ta cũng có thể tự do chọn làm nô lệ của tiền bạc. Chỉ có những người đạt tới tự do nội tâm mới hiểu được giá trị tự do là gì, mới biết quí trọng quyền tự do và vì thế cũng sẵn sàng trả giá cao để đổi lấy quyền tự do cho chính mình cũng như cho tha nhân.

    Người tự do thật là người biết tạo ra bầu khí an bình, thoải mái chung quanh mình, để người khác cũng có thể khám phá ra sự tự do của họ nữa. Tuy nhiên trên thực tế chúng ta thường bị trói buộc bởi nhiều thứ điều kiện và rất khó được tự do an bình nội tâm thực sự, nào là quyền bính, tiền bạc, danh vọng và dục vọng, chúng ta như những mắt xích ghì chặt chúng ta dưới ách nô lệ của chúng, điều khiển chúng ta bằng những thủ đoạn khôn khéo và khiến chúng ta thèm muốn những thỏa mãn mau qua của chúng.

    Tự do đích thực của con người là tự do được làm con cái Chúa. Tự do ấy đã được Thiên Chúa ban tặng cho mỗi người ngay từ khi mới được tạo dựng, và để duy trì quyền tự do ấy mỗi người phải chấp nhận trả giá rất cao, không những chỉ một lần thôi, nhưng là chấp nhận kỷ luật của từ bỏ và tự thoát suốt cả đời người, là xác tín rằng chúng ta không thuộc về thế gian này, nhưng thuộc về Thiên Chúa, Ðấng đã tạo dựng nên chúng ta và cũng là cùng đích chúng ta phải trở về lúc cuối đời của mỗi người.

    Niềm xác tín đó, không phải là thứ lý thuyết trống rỗng hoặc những lời nói suông, nhưng phải được cụ thể hóa qua lời nói cũng như hành động, làm như thế tức là chúng ta đang tiến từng ngày, từng bước tới tự do nội tâm đích thật.

    Lạy Chúa, con chỉ mong một điều, mong Chúa lấy đi để chẳng còn gì thuộc về con, mong chẳng còn gì là của con nữa, để con được trắng tay và chỉ còn Ngài để giữ lấy, để được trọn Chúa mãi là của con.

    Lạy Chúa, con chỉ mong được Chúa xóa đi và chẳng còn gì để chiếm hữu, để chẳng còn gì ràng buộc con nữa, để con được ngước lên tìm được Chúa là chân lý và con được cùng Chúa đồng hành luôn mãi. Amen.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tổng Thống Bush bày tỏ cảm nghiệm sau lễ an táng Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II

    Tổng Thống Bush bày tỏ cảm nghiệm sau lễ an táng Đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II

    Tổng Thống Bush từ lễ an táng đức cố giáo hoàng Gioan Phaolô II về đêm Thứ Sáu, ông đã tỏ lòng trọng kính vị cố lãnh đạo của Giáo Hội Công giáo Rôma trong bài diễn văn phát thanh hằng tuần của mình.

    Ông nói những việc cử hành đã lôi kéo các vị quốc vương, tổng thống và hành hương từ khắp nơi trên thế giới về Rôma là “một nhắc nhở mãnh liệt và tác động về cái ảnh hưởng sâu xa vị giáo hoàng này có được trên thế giới của chúng ta”.

    “Hết mọi nơi ngài đến, vị giáo hoàng này đều rao giảng rằng tiếng gọi tự do là tiếng gọi giành cho hết mọi phần tử thuộc gia đình nhân loại, vì tác giả của sự sống đã viết nó vào bản tính loài người chung của chúng ta. Nhiều người ở Tây phương đã đánh giá nhẹ tầm mức ảnh hưởng của vị giáo hoàng này. Thế nhưng, những ai ở sau Bức Màn Sắt đã biết rõ hơn, và sau cùng ngay cả Bức Tường Bá Linh cũng không đứng vững quyền lực mãnh liệt của vị giáo hoàng Balan này”.

    Vị tổng thống này đang tìm cách phổ biến nền dân chủ cho các quốc gia khác, ông thường nói về tự do là tặng ân của Thiên Chúa. Ông nói rằng Đức Gioan Phaolô II đã dấn thân cho lý tưởng này từ khi còn trẻ ở Balan, khi ngài tránh né cơ quan mật vụ Đức Quốc xã để tham dự chủng viện chui.

    “Sau đó, khi ngài được bổ nhiệm là vị giám mục trẻ nhất Balan, ngài đã phải đối diện với một chế độ chuyên chế lớn khác của thế kỷ 20 là cộng sản. Và ngài đã sớm dạy cho các kẻ cầm quyền cộng sản ở Warsaw và Moscow rằng sự thật về luân lý có các đạo quân của nó và có một quyền lực còn lớn hơn cả những thứ quân đội và công an mật vụ của họ”.

    Vị tổng thống này là tổng thống Hoa Kỳ đầu tiên tham dự một lễ an táng giáo hoàng. Trong chuyến bay về nước, ông đã cho biết lễ an táng đã tác động ông hơn là ông tưởng và sẽ có ảnh hưởng đến vai trò làm tổng thống của ông.

    “Cuộc cử hành hôm nay, tôi dám cá với anh chị em là đối với hằng triệu người, là một sự tái quyết tâm cho nhiều người và là một cách để bảo đảm là những ngờ vực không thấm nhiễm vào tâm hồn của anh chị em”.

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo bài ‘Bush praises pope's 'profound impact', được CNN phổ biến ngày 9/4/2005 - Thoidiemmaria.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tổng Nghị Hồng Y lần VI: kiểm điểm về Lễ an táng và hướng về cuộc bầu giáo hoàng

    Tổng Nghị Hồng Y lần VI: kiểm điểm về Lễ an táng và hướng về cuộc bầu giáo hoàng

    Vào lúc kết thúc cuộc tổng nghị hồng y lần sáu Thứ Bảy 9/4/2005, vị giám đốc văn phòng báo chí tòa thánh Joaquín Navarro-Valls đã tường trình cho phóng viên báo chí biết nội dung cuộc tổng nghị hồng y lần 6 này như sau:

    “Tổng Nghị Hồng Y lần 6 trong thời gian trống ngôi giáo hoàng đã diễn ra vào sáng nay ở Sảnh Đường New Synod.

    “Sau kinh khai mạc, các vị hồng y tham gia hội nghị hôm nay tuyên thệ. Có 130 vị hồng y hiện diện.

    “ĐHY Trujillo đã bày tỏ lòng biết ơn đến nhiều người về việc cử hành hôm qua, đó là ĐHY Joseph Ratzinger, trưởng Hồng Y Đoàn, ĐHY Eduardo Martinez Somalo, tổng quản Hội Thánh Rôma, và các dịch vụ Vatican khác nhau; Văn Phòng Quốc Vụ Khanh, Văn Phòng Trưởng Ban Nghi Lễ về việc sửa soạn, tổ chức và diễn tiến cuộc cử hành an táng trang trọng hôm qua.

    “Đoạn ngài bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến tất cả mọi người hành hương có mặt, nhất là những người từ Balan cũng như từ khắp nơi trên Ý quốc, ngài cũng cám ơn về việc tiếp đón của thành phố Rôma về việc hành hương ngoại thường này.

    “Cuộc họp cũng đặc biệt cám ơn các thẩm quyền Ý quốc về việc tổ chức toàn vẹn và sáng giá những biến cố ngoại thường của những ngày này.

    “Có một số vấn đề bàn tới liên quan đến việc cử hành, bắt đầu với Lễ an táng hôm qua, tuần chín ngày tang chế cho Đức ciố Giáo Hoàng.

    “Các vị hồng y cứu xét một số vấn đề liên quan tới việc các ngài vào Nhà Thánh Matta ‘Domus Sanctae Marthae’ và việc khai mạc chính thức Mật Nghị được bắt đầu đúng như ấn định vào Thứ Hai, 18/4/2005.

    “Các vị hồng y, sau Lễ an táng của ĐTC, bắt đầu một giai đoạn gia tăng thinh lặng và nguyện cầu hơn, liên quan tới việc bầu giáo hoàng. Các vị đồng tâm nhất trí tránh các cuộc phỏng vấn và gặp gỡ giới truyền thông. Bởi thế, các phóng viên báo chí được kêu gọi một cách tế nhị là đừng xin phỏng vấn hay bất cứ một nhận định nào. Việc mời gọi này không nên coi như là một thái độ bất lịch sự hay không tha thiết với giới truyền thông – thật vậy, các vị hồng y muốn cám ơn họ về việc họ hết sức chú trọng khiến họ theo dõi các biến cố trong dịp này – mà là một cử chỉ có trách nhiệm lớn.

    “Chương 1 và 2 của Tông Hiến ‘Universi Dominici Gregis’ đã được đọc lên ở sảnh đường này.

    “Có hai vị hồng y cho biết rằng các vị không thể tham dự vì lý do sức khỏe, đó là ĐHY Jaime L. Sin, TGM hồi hưu Manila, Phi Luật Tân, và ĐHY Adolfo Antonio Suarez Rivera, TGM về hưu ở Monterrey Mễ Tây Cơ”.

    Vị giám đốc này cho biết thêm là phái đoàn lãnh sự làm việc bên cạnh tòa thánh sẽ được mời dự Lễ “pro eligendo Summo Pontifice” vào sáng Thứ Hai, 18/4.

    Ông cũng nói rằng ông đã nhận được vô số câu hỏi về tiến trình phong chân phước cho Đức Gioan Phaolô II và ghi nhận rằng đây là vấn đề hoàn toàn tùy vào vị tân giáo hoàng.

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL - Thoidiemmaria.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Báo chí Ả rập có thiện cảm đặc biệt với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

    Báo chí Ả rập có thiện cảm đặc biệt với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II

    VietCatholic News (11/04/2005) (Vatican 10/4/2005) - Đức Tổng Giám Mục Giuseppe De Andrea tại Kuwait, Yemen, Bahrain và Qatar và cũng đồng thời là khâm sứ Tòa Thánh tại Ả rập Sê út, Oman và Liên Hiệp Các Tiểu Vương Quốc Ả rập Thống Nhất cho biết báo chí Ả rập có thiện cảm đặc biệt với Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II. Việc tường thuật về sự qua đi của Đức Thánh Cha, tiểu sử của ngài và thánh lễ an táng thật là “đáng kinh ngạc và tuyệt vời”.

    Có báo đăng nơi trang nhất dòng chữ “Tất cả chúng ta đều thấy mồ côi”. Các báo đều dành ra trang đầu, các trang trong với nhiều bài và hình ảnh về Đức Thánh Cha.

    Đức sứ thần Tòa Thánh cho biết văn phòng của ngài nhận được nhiều điện chia buồn của chính quyền, các nhà ngoại giao và dân chúng. “Họ nói với tôi mất mát của chúng ta cũng là mất mát của chính họ. Họ thấy nơi Đức Thánh Cha một người bạn, một sự hướng dẫn nhưng trên hết là một con người của hòa bình”.

    Đức Tổng Giám Mục cho biết buổi lễ cầu nguyện cho Đức Thánh Cha tại Vương Cung Thánh Đường Kuwait đã có đến 4000 người tham dự.

    Đức Tổng Giám Mục còn cho biết thêm: “Tất cả 7 nước trong bán đảo Ả Rập đều gởi đại biểu đi dự lễ an táng Đức Thánh Cha kể cả ba nước chưa có quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh (Ả rập Sê út, Oman và Liên Hiệp Các Tiểu Vương Quốc Ả rập Thống Nhất). Những điều đã xảy ra thật là đáng kinh ngạc và ấm lòng”.


    Đặng Tự Do - Thoidiemmaria.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005: Bài Giảng của ĐHY chủ tế Joseph Ratzinger

    Lễ An Táng ĐTC GPII 8/4/2005: Bài Giảng của ĐHY chủ tế Joseph Ratzinger

    “Hỡi Đức Thánh Cha, xin hãy ban phép lành cho chúng tôi từ cửa sổ phòng của ngài”

    (Tiếp)

    Hãy theo Thày! Vào tháng 10/1978, ĐHY Wojtyla, một lần nữa, đã nghe thấy tiếng Chúa gọi. Một lần nữa, lại xẩy ra cuộc đối thoại với Thánh Phêrô được trình thuật trong bài Phúc Âm Thánh Lễ hôm nay: ‘Simon, con Jonah, con có yêu mến Thày hay chăng?’ Hãy chăn các chiên mẹ của Thày!’ Trước câu hỏi Chúa hỏi ‘Karol, con có yêu mến Thày hay chăng?’, ĐTGM Krakow đã đáp lại tận đáy lòng mình rằng: ‘Chúa biết hết mọi sự; Chúa biết rằng con yêu mến Chúa’. Tình yêu Chúa Kitôđã động lực chính yếu nơi đời sống Đức Thánh Cha thân yêu của chúng ta. Bất cứ ai đã từng thấy ngài cầu nguyện, những ai đã từng nghe ngài giảng, đều biết được điều ấy. Nhờ việc ngài sống sâu xa thân mật với Chúa Kitô như thế, ngài đã có thể mang vác một gánh nặng vượt trên khả năng thuần túy của phàm nhân: gánh nặng làm mục tử của đàn chiên Chúa Kitô, của Giáo Hội hoàn vũ của mình. Đây không phải là lúc nói về những gì đặc biệt của giáo triều phong phú này. Tôi chỉ xin đọc hai đoạn phụng vụ hôm nay nói lên những yếu tố chính yếu nơi sứ điệp của ngài. Trong bài đọc thứ nhất, Thánh Phêrô – và cùng với Thánh Phêrô cả vị Giáo Hoàng này nữa – nói rằng ‘Tôi thực sự hiểu được rằng Thiên Chúa đã không tỏ ra thiên vị, thế nhưng, nơi hết mọi dân nước, ai kính sợ Ngài và làm những gì chân thực đều đáng được Ngài chấp nhận. Anh em biết rằng sứ điệp Ngài đã gửi đến cho dân Do Thái, đó là việc rao giảng hòa bình của Chúa Giêsu Kitô – Người là Chúa của tất cả mọi người’ (Acts 10:34-36). Và trong bài đọc thứ hai, Thánh Phaolô – và cùng với Thánh Phaolô, vị cố Giáo Hoàng của chúng ta, đã kêu gọi chúng ta khi kêu lên rằng: ‘Anh chị em thân mến, những người tôi yêu thương và mong đợi, là niềm vui và là vinh dự của tôi, anh chị em hãy đứng vững như thế trong Chúa, hỡi những người tôi quí mến’ (Phil 4:1).

    Hãy theo Thày! Kèm theo lệnh truyền chăm sóc cho đàn chiên của Người, Chúa Kitô còn báo cho Phêrô rằng thánh nhân sẽ phải chịu một cái chết tử đạo. Bằng những lời này, những lời kết thúc và tóm tắt cuộc đối thoại về lòng mến yêu cũng như về lệnh truyền làm chủ chiên hoàn vũ, Chúa Kitô đã nhắc lại một cuộc đối thoại khác đã diễn ra trong Bữa Tiệc Ly. Bấy giờ Chúa Giêsu đã phán: ‘Nơi Thày đi các con không thể nào tới được’ Thánh Phêrô thưa Người rằng: ‘Lạy Thày, Thày đi đâu thế?’ Chúa Giêsu đáp: ‘Nơi Thày đi hiện nay con không thể nào theo Thày nổi đâu; nhưng sau này con sẽ theo Thày’ (Jn 13:33,36). Từ Bữa Tiệc Ly, Chúa Giêsu đã tiến tới Thập Giá, tiến tới cuộc phục sinh của Người – Người đã đi vào cuộc vượt qua của Người; và Thánh Phêrô chưa thể nào theo được Người. Giờ đây, sau cuộc phục sinh, thời giờ ấy đã đến, thời điểm ‘sau này’ đã đến. Bằng việc chăn dắt đàn chiên của Chúa Kitô, Thánh Phêrô đã đi vào mầu nhiệm vượt qua, thánh nhân đã tiến về phía thập tự giá và về cuộc phục sinh. Chúa Kitô đã nói về điều này bằng những lời: ‘… khi con còn trẻ, con thường tự mình thắt lưng lấy và đi đâu tùy ý con muốn’ (Jn 21:18). Trong những năm đầu của giáo triều mình, những năm còn trẻ trung và đầy nhiệt huyết, Đức Thánh Cha đã đi đến tận cùng trái đất theo sự dẫn dắt của Chúa Kitô. Thế nhưng sau đó, ngài càng ngày càng đi sâu vào cuộc hiệp thông khổ đau với Chúa Kitô; càng hiểu được sự thật của những lời này: ‘Người ta sẽ thắt lưng cho con’. Và trong chính cuộc hiệp thông đau khổ này với Chúa Kitô một cách liên tục và càng gia tăng hơn, ngài đã loan báo Phúc Âm, loan báo mầu nhiệm về một tình yêu thương cho đến cùng tận (x Jn 13:1).

    Ngài đã giải thích cho chúng ta mầu nhiệm vượt qua như là một mầu nhiệm của lòng thương xót Chúa. Trong tác phẩm cuối cùng của mình, ngài đã viết: Cái giới hạn áp đặt trên sự dữ ‘tối hậu là Lòng Thương Xót Chúa’ (Hồi Niệm và Căn Tính, trang 60-61). Và khi suy nghĩ về biến cố mạng sống ngài bị cố sát, ngài đã nói: ‘Trong việc hy hiến mình cho tất cả chúng ta, Chúa Kitô đã cống hiến cho đau khổ một ý nghĩa mới, mở ra một chiều kích mới, một trật tự mới, đó là trật tự của yêu thương… Chính cái đau khổ này đốt cháy và thiêu rụi đi sự dữ bằng ngọn lửa yêu thương và rút ran gay từ tội lỗi cả một cuộc bừng nở đầy những thiện hảo’ (cùng nguồn, trang 189-190). Được thôi thúc bởi nhãn quan ấy, vị Giáo Hoàng này đã chịu đựng khổ đau và đã yêu qúi việc hiệp thông với Chúa Kitô, nên đó là lý do tại sao sứ điệp về khổ đau của ngài cùng việc thinh lặng của ngài là những gì thất là sống động và hiệu năng.

    Lòng Thương Xót Chúa: Đức Thánh Cha đã thấy được cái phản ảnh thuần khiết nhất của tình thương Thiên Chúa nơi Người Mẹ Thiên Chúa. Ngài là người đã mồ côi mẹ từ nhỏ đã càng tỏ ra kính mến người mẹ thần linh này hơn nữa. Ngài đã nghe thấy những lời của Chúa Kitô tử giá như là lời nói với riêng ngài: ‘Này là Mẹ của con’. Bởi thế, ngài thực hiện như người môn đệ yêu dấu đã làm, đó là ngài đã đem Mẹ về nhà của ngài (eis ta idia: Jn 19:27) – ‘Totus Tuus – tất cả của con là của Mẹ’. Và từ người mẹ này, ngài đã học nên giống Chúa Kitô.

    Không ai trong chúng ta có thể quên được cảnh tượng diễn ra hôm Chúa Nhật Phục Sinh vừa rồi trong cuộc đời của ngài, Đức Thánh Cha, đầy những đớn đau, lại tiến đến cửa sổ Tông Dinh của mình để ban phép lành ‘urbi et orbi – cho thành Rôma và cho thế giới’ một lần cuối cùng. Chúng ta có thể chắc chắn rằng vị Giáo Hoàng thân yêu của chúng ta hôm nay đang đứng ở cửa sổ phòng của một Người Cha, ngài đang trông thấy chúng ta và ban phép lành cho chúng ta. Vâng, xin hãy ban phép lành cho chúng con, Đức Thánh Cha ơi. Chúng con xin dâng phú linh hồn yêu dấu của cha cho Mẹ Thiên Chúa cũng là Mẹ của cha, Vị đã hướng dẫn cha từng ngày và là vị giờ đây dẫn cha đến vinh quang đời đời của Con Mẹ là Đức Giêsu Kitô, Chúa chúng ta. Amen.

    Đaminh Maria Cao Tấn Tĩnh, BVL, dịch theo VIS của Tòa Thánh qua điện thư ngày 7/4/2005 - Thoidiemmaria.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • ĐHY Francesco Marchisano kể về ơn lạ nhận được từ Đức Gioan Phaolô II

    ĐHY Francesco Marchisano kể về ơn lạ nhận được từ Đức Gioan Phaolô II

    VietCatholic News (11/04/2005) (Vatican 9/4/2005) - Trong khuôn khổ tuần chín ngày “novendiali” cầu nguyện cho Đức Thánh Cha, chiều thứ Bảy, mùng 9 tháng 4 năm 2005, Ðức Hồng Y Francesco Marchisano, Kinh Sĩ Trưởng Ðền Thờ Thánh Phêrô, và Đức Tổng Giám Mục Stanislaw Dziwisz, thư ký riêng của Đức Thánh Cha đã cử hành thánh lễ cầu nguyện cho Đức Cố Giáo Hoàng với sự tham dự đặc biệt của các tín hữu làm việc trong Nội Thành Vatican. Thánh lễ này còn có sự hiện diện rất đông đảo của các tín hữu về Rôma tham dự thánh lễ an táng Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II.

    Trong bài giảng thánh lễ, Đức Hồng Y đưa ra lời cả quyết rằng vào Đại Năm Thánh 2000, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã làm phép lạ chữa bệnh cho chính cá nhân ngài.

    Ðức Hồng Y Francesco Marchisano, người Ý, đã quen biết Đức Thánh Cha từ năm 1962. Ngài cho biết rằng vào năm 2000, các bác sĩ đã giải phẩu ngay cổ ngài để dẫn máu lên não “và vì sự sai sót của các bác sĩ giây thanh quản bên phải của tôi tê liệt và tôi hoàn toàn không còn khả năng nói được”.

    Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã ra nhà thương thăm Đức Hồng Y, Đức Hồng Y cho biết “Ngài đã gõ vào khu vực giải phẩu trên cổ tôi trong vòng từ 2 đến 3 phút”. Trong lúc gõ, Đức Thánh Cha nói:

    “Đừng sợ, rồi đệ sẽ thấy, sẽ thấy. . Chúa sẽ ban cho đệ tiếng nói. Đệ sẽ thấy. Tôi sẽ cầu nguyện cho đệ. Đệ sẽ thấy”.

    Đức Hồng Y kể tiếp: “Một lúc sau thì tôi nói được”. Ngài cho biết “Các bác sĩ đã không giải thích được sự kiện tôi nói trở lại được. Và hôm nay đây trước mặt anh chị em tôi nói rất dõng dạc”.

    Ngài kết luận: “Cả chúng ta nữa hãy cám tạ Chúa vì đã ban cho Giáo Hội một vị Giáo Hoàng như thế và chúng ta hãy xin Chúa ban cho Giáo Hội các vị Giáo Hoàng tiến theo con đường do Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vạch ra”.

    Trong buổi họp báo hôm 9/4/2005 tại Phòng Báo Chí Tòa Thánh, một số báo chí Ý cho biết họ có trong tay hồ sơ về những phép lạ do lời cầu nguyện của Đức Cố Giáo Hoàng và nêu ra nguyện vọng muốn Tòa Thánh sớm phong Thánh cho Đức Thánh Cha. Đây cũng là nguyện vọng chung của nhiều người tham dự thánh lễ an táng với những tiếng đồng thanh vang dội: “Phong Thánh ngay, Phong Thánh ngay”.

    Tuy nhiên, ông Joaquín Navarro Valls cho biết theo giáo luật cần phải chờ 5 năm mới có thể mở án phong Thánh để các yếu tố xúc cảm không ảnh hưởng đến tiến trình điều tra phong Thánh. Việc chuẩn chước để có thể bắt đầu tiến trình điều tra là do thẩm quyền của Đức Tân Giáo Hoàng. Trong quá khứ, Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã chuẩn chước cho khởi sự sớm tiến trình điều tra phong Chân Phước cho Mẹ Têrêxa thành Calcutta.

    Ông Joaquín Navarro Valls cũng cho biết phép lạ cần phải xảy ra sau khi Đức Thánh Cha qua đời mới được kể đến.

    Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II đã phong Chân Phước cho 1,338 vị và phong Thánh cho 482 vị nhiều hơn tất cả con số do các vị tiền nhiệm ngài phong từ năm 1588 khi tiến trình phong Thánh được thành lập.


    Đặng Tự Do - Thoidiemmaria.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Các Hồng Y và Cơ Mật Viện

    Các Hồng Y và Cơ Mật Viện

    VATICAN CITY.- Cơ mật viện sắp tới vào ngày 18 tháng 4 năm 2005 là cơ mật viện đông nhất trong lịch sử của Giáo Hội Công Giáo, với các vị Hồng Y cử tri đa chủng.

    Có 117 vị Hồng Y dưới tuổi 80 và do đó, đủ điều kiện để tham gia việc bầu chọn Giáo hoàng. Các Ngài đến từ 53 quốc gia khác nhau, và phần lớn là Tổng Giám Mục của các Tổng Giáo Phận trên khắp thế giới.

    Tuổi trung bình của các vị Hồng Y là 71 tuổi, 7 tháng, tức già hơn 4 tuổi so với tuổi trung bình của các vị Hồng Y tham dự vào cơ mật viện để bầu ra Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị vào năm 1978.

    Vị Hồng Y già nhất trong số các vị Hồng Y cử tri hiện hành là Đức Hồng Y người Ý Marco Ce, vị Hồng Y Thượng Phụ Giáo Chủ nghĩ hưu của Venice, và Ngài sẽ tròn 80 tuổi vào tháng 7/2005 sắp tới. Vị Hồng Y trẻ tuổi nhất là Đức Hồng Y người Hungary, Peter Erdo của Budapest. Ngài hiện nay 52 tuổi.

    Hầu hết các vị Hồng Y cử tri hiện hành đều được Đức Cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô Đệ Nhị và bổ nhiệm lên Hồng Y, ngoại trừ ba Đức Hồng Y duy nhất đủ tuổi bầu là: Đức Hồng Y người Hoa Kỳ William W. Baum; Đức Hồng Y người Đức là Joseph Ratzinger (nguyên Niên Trưởng Hồng Y Đoàn, và là Cựu Tổng Trưởng Bộ Giáo Lý Đức Tin); và Đức Hồng Y Sin của nước Philippines.

    Châu Âu có nhiều vị Hồng Y cử tri nhất, với 46 vị đến từ các nước thuộc Tây Âu và 12 vị đến từ Đông Âu, tổng cộng là 58 vị, hay chiếm gần một nửa con số các vị Hồng Y cử tri.

    Mỹ Châu La Tinh có 21 vị, chiếm khoảng 18% trong tổng số các vị Hồng Y cử tri. Bắc Mỹ có 14 vị chiếm 12%; 11 vị đến từ các nước Á Châu và Phi Châu, tức chiếm khoảng 9% cho mỗi Châu Lục; và Châu Đại Dương có 2 vị Hồng Y cử tri, tức chiếm khoảng 1.7%.

    Nếu tính theo từng quốc gia, thì Ý Đại Lợi có 20 vị Hồng Y cử tri; kế đến là Hoa Kỳ với 11 vị; Đức Quốc và Tây Ban Nha, mỗi nước có 6 vị Hồng Y cử tri; Pháp Quốc với 5 vị; và nước Brazil và Mêhicô, mỗi nước có 4 vị Hồng Y cử tri. Có 4 quốc gia, bao gồm luôn cả Gia Nã Đại, mỗi nước có 3 vị Hồng Y.

    Số lượng các vị Hồng Y cử tri người Ý tham dự cơ mật viện lần này giảm xuống đáng kể kể từ cơ mật viện trước vào năm 1978, khi đó Ý Đại Lợi có tới 26 vị Hồng Y cử tri.

    Trong số các vị Hồng Y cử tri, có tới 20 vị Hồng Y từ các dòng tu, cụ thể là có 4 vị Hồng Y thuộc Dòng Phanxicô, 3 vị Hồng Y thuộc Dòng Tên, 3 vị Hồng Y thuộc Dòng Salesian Don Bosco, và 2 vị Hồng Y thuộc Dòng Opus Dei.

    Riêng Hoa Kỳ, có tới 11 vị Hồng Y cử tri, đây là một con số cao kỷ lục. Trong số 11 vị Hồng Y của Hoa Kỳ, có tới 4 vị sinh sống và làm việc tại Rôma và 7 vị hiện đang là Tổng Giám Mục của các Tổng Giáo Phận tại Hoa Kỳ.

    4 vị Hồng Y cử tri người Hoa Kỳ đang sinh sống và làm việc tại Rôma gồm: Đức Hồng Y William Baum (cựu Chánh Tòa Cáo Giải); Đức Hồng Y Bernard Law (cựu Tổng Giám Mục của Tổng Giáo Phận Boston); Đức Hồng Y Francis Stafford (nguyên là Chánh Tòa Cáo Tông Đồ) và Đức Hồng Y Edmund Szoka (cựu Chủ Tịch Ủy Ban Giáo Hoàng đặc trách Quốc Gia Vaticăn).

    7 vị Hồng Y Tổng Giám Mục của Hoa Kỳ là: Đức Hồng Y Edward Egan của Tổng Giáo Phận New York; Đức Hồng Y Francis George của Tổng Giáo Phận Chicago; Đức Hồng Y William Keeler của Tổng Giáo Phận Baltimore; Đức Hồng Y Roger Mahony của Tổng Giáo Phận Los Angeles; Đức Hồng Y Adam Maida của Tổng Giáo Phận Detroit; Đức Hồng Y Theodore McCarrick của Tổng Giáo Phận Washington; và Đức Hồng Y Justin Rigali của Tổng Giáo Phận Philadelphia (trước đây là Giám Đốc Học Viện Giáo Hoàng về Ngành Ngoại Giao).

    Những Điểm Lưu Ý Quan Trọng:

    Các vị Hồng Y trên 80 tuổi thuộc Hồng Y Đoàn, mặc dầu không đủ điều kiện tham gia vào Cơ Mật Viện để bầu chọn ra vị Giáo Hoàng mới, thế nhưng, một trong các vị vẫn có thể được bầu chọn làm Giáo Hoàng, bởi các vị Hồng Y cử tri dưới 80 tuổi.

    Theo qui định của Tông Hiến Universi Dominci Gregis, khi Đức đương kim Giáo Hoàng băng hà, tất cả các vị Hồng Y đứng đầu các Bộ, các Ủy Ban hay Hội Đồng, đều bị mất chức, ngoại trừ: vị Hồng Y Thị Thần (Camerlengo) (tức Đức Hồng Y Eduardo Martinéz Somalo), người đứng đầu Văn Phòng Riêng của Tòa Thánh (Apostolic Camera), một bộ mà nhiệm vụ và chức năng có liên quan trực tiếp đến việc trống ngôi Giáo Hoàng tại Rôma; và vị Chánh Tòa Cáo Giải (Major Penitentiary) (tức Đức Hồng Y Francis Stafford-người Hoa Kỳ), mà nhiệm vụ quan trọng của vị ấy có liên quan tới phần rỗi của các linh hồn; thì hai vị Hồng Y ấy vẫn hoạt động như bình thường.

    Nếu vị Hồng Y được bầu chọn làm Giáo Hoàng, chưa được phong chức Giám Mục, tức từ linh mục được thăng chức lên Hồng Y, thì vị Giáo Hoàng được chọn đó, sẽ được nhận chức Giám Mục, bởi vị Hồng Y Niên Trưởng của Hồng Y Đoàn. Ba vị Hồng Y Linh Mục hiện nay đã quá tuổi 80 trong số Hồng Y Đoàn, tất cả đều là những nhà thần học nổi danh của các Dòng, đó là: Đức Hồng Y Tomas Spidlik (người Tiệp Khắc thuộc Dòng Tên - Ngài là một trong Hai vị sẽ giảng cho Hồng Y Đoàn trước khi bước vào Cơ Mật Viện), Đức Hồng Y Avery Dullus (người Hoa Kỳ thuộc Dòng Tên), và Đức Hồng Y Georges Cottier (người Thụy Sĩ thuộc Dòng Đa Minh).

    Anthony Lê - Vietcatholic.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Ai sẽ là vị Giáo Hoàng tương lai?

    Ai sẽ là vị Giáo Hoàng tương lai?

    LOS ANGELES - Sau tang lễ chôn cất đức cố Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, giờ đây cả thế giới đang tò mò muốn biết chân tướng vị Giáo Hoàng tương lai là ai? Các Đức Hồng Y mà nhiệm vụ chính của các ngài là có trách nhiệm bầu lên vị Giáo Hoàng tương lai, các ngài đang suy nghĩ gì? Đang nhắm bầu cho ai?

    Thực ra có câu nói từ lâu như thế này là: “Khi vào Cơ Mật Viện thì là Giáo Hoàng, lúc đi ra lại là Hồng Y”. Có nghĩa là những người thường được tiên đoán làm giáo hoàng trong quá khứ thường không được đắc cử như các “chuyên viên” tiên đoán, chỉ trừ một vài trường hợp là đúng mà thôi! Thế nên nghệ thuật “tiên đoán” và “tính toán” xem ai làm Giáo Hoàng, chỉ có mục đích tìm hiểu khả năng và nội lực của các vị có danh tiếng và khả năng nhất trong Hồng Y Đoàn mà thôi.

    Vào ngày thứ Bảy hôm nay 9/4/2005 trong một cuộc hội nghị 130 vị hồng y tại Vatican, các ngài đã đồng thanh quyết định với nhau là sẽ không tiếp xúc với báo chí nữa, sẽ giữ sự im lặng, để rồi các ngài có thời giờ cầu nguyện và suy nghĩ về việc tuyển chọn Giáo Hoàng tương lai. Hành động yên lặng này, phát ngôn viên Tòa thánh Joaquin Navarro-Valls gọi là một “hành động trách nhiệm”. Ông cũng xin các nhà báo vì lịch thiệp hãy thôi không phỏng vấn các hồng y trong giai đoạn này. Đây là một tiền lệ từ trước đến nay chưa xẩy ra, nhưng cũng có thể vì muốn bảo đảm tính cách vô tư trách bị ảnh hưởng bởi các nguồn tư duy từ mọi phía, đồng thời muốn bảo mật truyền thống bầu cử kín từ ngàn xưa của Giáo Hội.

    Lần bầu Giáo Hoàng lần này sẽ có 115 vị hồng y thuộc 52 quốc gia tham dự cuộc bầu cử. Có 2 vị lý do ốm đau không tham dự được là ĐHY Jaime L Sin của Phi luật tân và ĐHY Alfonso Antonio Suarez Rivera của Mễ Tây Cơ.

    Vì Đức Gioan Phaolô II sau 455 năm được bầu làm Giáo Hoàng không phải là người Ý đại lợi, nên từ đó cũng không giới hạn là phải người Ý mới làm Giáo Hoàng. Tuy dù gần đây có dư luận có lẽ ngôi Giáo Hoàng sẽ trở lại trong tay vị hồng y người Ý. Một số khác lại nghĩ là nên bầu cho một vị tại Nam Mỹ với số người Công giáo đông nhất hoàn cầu và muốn làm sốn lại truyền thống Công giáo tại Nam Mỹ. Và số người khác thì cho rằng còn có các vị có khả năng tại Á châu và Phi châu chẳng hạn.

    Một vài tiêu chuẩn cho vị Giáo Hoàng tương lai:

    Qua một số lời tuyên bố của các đức hồng y, chúng ta có thể thấy được những tiêu chuẩn mà các vị hồng y chọn người kế vị Đức Gioan Phaolô II như sau:

    Đức Hồng Y Gioan Baotixita Phạm Minh Mẫn trong một cuộc phỏng vấn vào ngày 8/4/2005 với LM Trần Công Nghị có nói về một số những đức tính và có thể cũng là những tiêu chuẩn của đa số các hồng y khác. Đức Hồng Y Mẫn trả lời như sau: “Trong tâm trí của tôi là chọn một Gioan Phaolô thứ III, mang những nét tương tự giống như Gioan Phaolô thứ II. Đó là một sứ giả Tin Mừng không mỏi mệt, đó là một Mục Tử nhân lành, tân tụy và hy sinh cho đoàn chiên, và một vị Lãnh Đạo Tinh Thần vừa khiêm tốn, phục vụ vô vị lợi, và vừa kiên trì xây dựng nền văn hóa sự sống văn minh tình thương cho các dân tộc, cho xã hội loài người. Đó được coi như là những đức tính và những tiêu chuẩn đối với riêng tôi”.

    Đức Hồng Y George Pell của tổng giáo phận Sydney, Perth, Úc châu cho biết: vị Tân Giáo Hoàng phải là một Thày Dạy và là một Nhà Truyền Giáo trong tinh thần Gioan Phaolô II Cao Cả. Tuy nhiên, Đức Hồng Y bày tỏ âu lo là Hồng Y Đoàn sẽ khó lòng tìm ra một vị với tất cả những tài năng như vị Giáo Hoàng vừa quá cố. ĐHY Pell còn nhận định rằng: “Đức Gioan Phaolô, theo những tiêu chuẩn của Giáo Hoàng, đã rất trẻ, rất năng động và hiện diện trước công chúng rất thành công với sự bén nhạy về ngôn từ. Chúng ta không thể kỳ vọng nhiều như thế nơi mọi vị Giáo Hoàng. Nếu một vị Giáo Hoàng có tuổi hơn, chúng ta sẽ không thấy ngài thực hiện nổi nhiều chuyến tông du như Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II”. Đức Hồng Y Pell cũng nhận định rằng vấn đề cai quản Giáo Hội Hoàn Vũ và tương quan với các Giáo Hội địa phương chỉ là chuyện thứ yếu. Vấn đề lớn lao hơn mà vị Tân Giáo Hoàng phải đối phó là “kêu gọi chúng ta vượt qua con người mình để nên giống hình ảnh Thiên Chúa” và “tạo cho chúng ta hy vọng để đương đầu với sự yếu đuối và tội lỗi của chúng ta”.

    ĐHY Karl Lehmann mới đây tuyên bố với báo Zeitung rằng: “cuộc bầu lần này chủng tộc và bối cảnh của vị hồng y sẽ đóng một vai trò trong việc chọn vị giáo hoàng, tuy vậy không có ai là rõ ràng ưu thế cả, và cũng không có liên hiệp nhóm nào vững mạnh cả”. Ngài nói tiếp: “Các hồng y phải qua các cuộc bỏ phiếu, qua các cuộc tiếp xúc và luận bàn để tiến tới một sự đồng thuận”.

    Ngoài ra một trong những vấn đề mà hiện nay các giám mục thế giới quan tâm nhiều là vấn đề tập quyền tại Giáo Triều Vatican hay là mở rộng “Quyền Liên Kết Hiệp thông giữa Các Giám Mục” (collegiality)? Đây là danh từ mà Công đồng Vatican II đã đưa ra. Vấn đề là các giám mục hay Hội Đồng Giám Mục các quốc gia có được toàn quyền quyết định những vấn đề có tính cách chỉ liên quan tới các giải pháp thuộc khu vực địa phương trong những điều kiện và tình thế của địa phương đó hay không. Một số hồng y cho rằng bàn giấy Giáo Triều tập trung qúa nhiều quyền hành và nghĩ rằng nên để cho các giám mục địa phương được phần nào tự lập. chẳng hạn về vấn đề phụng tự, huấn luyện linh mục và ngay cả vấn đề tháo gỡ hôn nhân, v.v...

    ĐHY Stephen Fumio Hamao, người Nhật, hiện nay là Chủ Tịch Hội Đồng Giáo Hoàng về Di Dân, trong năm vừa qua phát biểu rằng: "người Âu châu cho rằng Châu Âu là trung tâm của thế giới. Và họ phải nhận ra sự thực này là họ không biết gì về Á châu cả”.

    Trước khi bàn về danh sách các vị “papabile - có thể là Giáo Hoàng”, chúng ta cũng nên nhận định rằng có một số các vị hồng y được gọi là “đại cử tri” nghĩa là có tầm mức ảnh hưởng và dủ nếu các ngài không được chọn làm giáo hoàng, nhưng các vị này có tầm mức ảnh hưởng lớn trên các vị hồng y khác, đó là các vị hồng y sau đây: ĐHY Carlo Maria Martini của Ý, ĐHY Jean Marie Lustiger của Pháp, ĐHY Joseph Ratzinger người Đức và ĐHY Miloslav Vlk người nuớc Cộng Hòa Tiệp Khắc.

    Các vị Giáo Hoàng tương lai thường được nhắc tới là:

    Âu châu: Tettamanzi 65 tuổi (Ý), Scola 63 tuổi (Ý), Sodano 71 tuổi (Ý), Ruini 68 tuổi (Ý), Antonelli 61 tuổi (Ý), Ratzinger 78 tuổi (Đức) Danneels 67 tuổi (Bỉ), Puljic 59 tuổi (Bosnia) Schönborn 60 tuổi (Áo); Nam Mỹ: Hummes 70 tuổi (Brazil), Bergoglio 69 tuổi (Argentina), Carrera 63 tuổi (Mexicô), Maradiaga 62 tuổi (Honduras); Phi Châu: Arinze 72 tuổi(Nigeria); Á châu: Dias 68 tuổi (Ấn Độ).

    ĐHY Dionigi Tettamanzi 65 tuổi người Ý. Ngài là Tổng giám mục thành Milan được nhiều người nhắc tới nhất. TRước đây làm trong bộ Ngoại giao Tòa Thánh. Là vị hồng y được tiếng là bảo thủ nhưng trung dung. Có thể là vị hồng y được đồng thuận từ nhiều phía. Hiện ngài là Phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Ý, và trước đây là Tổng thư ký của Hội Đồng, nên quen hấu hết các Đức Giám Mục Ý. Ngài cũng là một thần học gia luân lý. Trong kỳ họp thượng Hội Đồng Giám Mục Âu Châu vừa qua rất được nhiều giám mục ưa chuộng vì đưa ra đường lối tích cực và lạc quan chứ không phải là giọng điệu bi quan yếm thế khi nói về Âu châu. ĐHY Tettamanzi cũng là tác giả văn kiện về Gia Đình và Đạo Đức Sinh Học của ĐGH. Gần đây các đề tài trọng yếu của vị Hồng Y này hướng tới các đề mục như là: toàn cầu hóa, chủ thuyết giới giầu cai trị trong chính quyền (plutocracy) và độc quyền truyền thông đại chúng. Có hai tổ chức đang ảnh hưởng tới đường lối của ĐHY Tettamanzi là Cộng Đoàn Thánh Egidio và tổ chức Opus Dei.

    ĐHY Joseph Ratzinger 78 tuổi, ngài có tài ngoại ngữ nói nhiều thứ tiếng. Tuy là quá tuổi hồi hưu, nhưng theo ý muốn của ĐGH vị hồng y này cũng không thể nào thiếu được tại Giáo Triều. Nếu ĐHY Sodano quan trọng về chính sách và đường lối ngoại giao chính trị của Tòa Thánh, thì ĐHY Ratzinger chính là người cầm cân nảy mực về giáo lý và giáo huấn đức tin của Giáo Hội. ĐHY Ratzinger đã ở vị trí này trong 23 năm qua trong chức vụ Trưởng Thánh Bộ Đức Tin. Hiện nay trong số 117 vị hồng y còn đủ điều kiện bầu Giáo Hoàng tương lai thì chỉ còn lại 3 vị là không do Đức Gioan Phaolô cất đặt lên mà thôi. Đức Ratzinger là một trong 3 vị trước đây đã chọn Karol Wojtyla lên làm Giáo Hoàng vào năm 1978. Dù có tuổi nhưng địa vị và thế giá của ngài không suy giảm tại Vatican. Và ngài được số hồng y các hồng y thuộc Phi châu và Á châu ngưỡng mộ. Tuổi tác của ngài không là ngăn trở cho việc làm giáo hoàng. Đức Gioan XIII (Angelo Giuseppe Roncalli) được chọn làm giáo hoàng lúc 77 tuổi và có công triệu tập Công Đồng Vatican II, được coi là một cuộc cách mạng trong Giáo Hội cho thế kỷ 20. Những người ủng hộ ĐHY Ratzinger muốn rằng vị hồng y này làm Giáo Hoàng để sửa sai những thất bại mà cuộc cách mạng Công Đồng Vatican II đã tạo nên và hướng dẫn Giáo Hội trên một con đường vững chãi. Tuy vậy ĐHY Ratzinger bị giới cấp tiến không mấy hài lòng vì đường lối cứng rắn. Ngài có khả năng nối kết truyền thống Đồng và Tây trong giáo Hội. Tuy là bảo thủ, nhưng cũng có tinh thần cởi mở.

    ĐHY Francis Arinze 72 tuổi, người Nigeria thuộc Phi châu. Ngài từng được coi là ứng cử viên Giáo Hoàng nặng kí. Hiện trong nhiều năm qua đã giữ nhiều chức vụ tại Vatican: Như Đối Thoại Liên Tôn, và hiện nay đứng đầu Bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích. Cuộc đời trở lại đạo Công giáo của ngài là một cảm hứng cho nhiều người. Ngài là người đã từng có kinh nghiệm về giao tế và đối thoại với các tôn giáo khác, nhất là Hồi Giáo. Đó là một trong những điều mà vị giáo hoàng tương lai nhất thiết phải đối diện.

    ĐHY Claudio Hummes, năm nay 70 tuổi, tổng giám mục thành São Paulo, nước Brazil, rất được khối các hồng y Nam Mỹ kính trọng. Khói Nam Mỹ có tất cả 21 hồng y. Ngài trước đây là Cha Dòng Phanxicô, sinh ra tại Brazil và cha mẹ là người gốc Đức. Ngài thường lên tiếng mạnh mẽ về công bằng xã hội, nhiệt liệt bênh đỡ quyền lợi của người nghèo. Về quan điểm thần học rất bảo thủ. Các vị lãnh đạo Nam Mỹ muốn rằng Giáo Hội phải để tâm hơn nữa trong việc chống nạn nghèo đói và ngăn chặn việc phát triển mạnh mẽ của Tin Lành và các giáo phái Thánh Linh đang thu hút và lấy đi dần các tín đồ Công Giáo tại Nam Mỹ. Vào tháng 3 năm nay, Ngài tuyên bố rằng: “Cần phải liên kết với người nghèo”. Tuy vậy ngài cũng rất thận trọng và giữ khoảng cách với nền “thần học giải phóng”một phong trào có tính cách công lý xã hội trong thập niên 1970. Phong trào này chính Đức Gioan Phaolô cho là quá gần kề với chủ thuyết Cộng Sản.

    ĐHY Godfried Daneels, năm nay 71 tuổi người Bỉ. Ngài trước đây thường được nhắc tới rồi vó một thời không được nhắc tới, nhưng sau Thượng Hội Đồng Giám Mục Âu Châu thì người ta thấy rõ tài năng của vị hồng y này: hoạt bát, thông thái, nhiệt tình. Ngài là một trong 3 vị được chọn để trình bày cho đức Giáo Hoàng Giaon Phaolô II về những quyết định tổng kết của Hồi Đồng. Trong các b2i diện văn, Ngài nói truyện về các vấn đề đương đại của Châu Âu và khẳng định rằng dù bên ngoài xem ra có những thế lực xấu qủi ma đang ảnh hưởng, thế trong đó cũng phát sinh yếu tố tốt, vì từ đó Giáo Hội nhận diện lại mình, vì thế đã đổi hướng nhìn của các giám mục châu Âu. Ngài cũng quan niệm rằng, trào lưu phóng khoáng và có tính cách rút lui hiện nay, nếu ta biết nhìn ra cũng học được cái tốt. Vì nói cho cùng Giáo Hội cần cổ võ ước muốn của con người là muốn được hạnh phúc - Chúa Kitô đến mang sự sống tràn đầy cho con người. Ngay cả khi Giáo Hội mất đi tài sản và quyền lực hay thế đứng trong xã hội hiện nay, thì đó cũng dậy cho chúng ta biết khiêm nhường. Ngài chủ trương phân quyền và bới đi tính cách tập quyền tại giáo triều Vatican. Một điểm yếu của ĐHY Daneels là trong giáo phận của Ngài vì thiếu kiểm soát chặt chẽ nên đã xẩy ra các vụ linh mục lạm dụng tính dục.

    ĐHY Oscar Andrés Rodríguez Maradiaga, năm nay 62 tuổi, Ngài giống Đức Gioan Phaolô II đầy nhiệt huyết và nghị lực. Ngài biết lái máy bay và tập thể thao hằng ngày. Ngài hiện là Tổng giám mục giáo phận Tegucigalpa, thuộc nước Honduras. Ngài có tài ngôn ngữ, nói rất nhiều thứ tiếng. Ngài là tiếng nói trung dung của Nam Mỹ. Ngài cũng là chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Liên Mỹ Châu La Tinh. Chính ngài là người đã đưa ra các chương trình làm thăng tiến đời sống công bình xã hội tại Nam Mỹ, chống độc tài và cổ võ cho nhân quyền. Hồng Y Maradiaga thường lên tiếng ủng hộ việc các nước giầu tha nợ cho các nước nghèo. Ngài cho rằng một trong những trách vụ của ngài là lên tiếng về các xung khắc giữa nền kinh tế toàn cầu hóa và hằng triệu dân nghèo sống trong các nước chậm tiến.

    ĐHY Christoph Schonborn, năm nay 60 tuổi. Là tổng giám mục thành Vienna, nước Áo. Ngài là ngôi sao trẻ đang lên và có rất nhiều tương lai. Được phong làm hồng y lúc mới có 54 tuiổi. Tuy dù ở tuối rất trẻ nhưng nhiều người nhắc tới Ngài. Là một giáo sư thần học tín lý và nhà trí thức và phong cách của ngài làm nhiều người để ý và kính trọng. Ngài kêu gọi người Công Giáo Tây Phương nên nói lời xin lỗi và tha thứ vì trước đây đã im lặng về những đau khổ gây ra cho Giáo hội Đông Phương. Ngài có nhiều kinh nghiệm về đối thoại Liên Tôn. Được coi là một người hòa giải. Tuy nhiên ngài cũng có vấn đề là không kiểm soát chặt chẽ giáo dục chủng viện, nên năm qua đã có vụ tìm thấy 40,000 tầm hình đồi trụy trong các máy điện toán ở chủng viện.

    ĐHY Giovanni Battista Re, 71 tuổi người Ý. Đức hồng Y Re đã từng nắm những vị trí quan trọng trong cơ cấu đầu não của Tòa Thánh Vatican. Là vị hồng y có tài quản trị. Tuy không có nhiều kinh nghiệm về mục vụ, nhưng về đối ngoại và việc triều chính ở Vatican thì ngài rất quen thuộc. Sau khi rất thành công trên trường ngoại giao của Tòa Thánh, ngài rất được ĐGH Gioan Phaolô II tín nhiệm và trở thành cố vấn tín cẩn của Đức Giáo Hoàng. Hiện đang iữ Bộ quan trọng tại Vatican là bổ nhiệm các giám mục trên thế giới.

    ĐHY Angelo Sodano, năm nay 78 tuổi, người Ý. Làm Quốc Vụ Khanh Tòa Thánh. Chính ĐGH Gioan Phaolô II là người chuyên ủy quyền cho Giáo Triều (Curia Roma) điều hành Giáo Hội. Và với hiện tình sức khỏe ngày càng kém đi thì sự ủy quyền này càng ngày càng trở nên rộng rãi hơn. Cho nên quyền của ĐHY Sodano và nhân viên thân cận của ngài càng trở nên rõ rệt. Theo chỉ thị của ĐGH thì các vị hồng y trong giáo triều phải hồi hưu lúc 75 tuổi, nhưng dù năm nay đã 78 tuổi, ĐHY Sodano vẫn còn tại chức trong Bộ trọng yếu này.

    ĐHY Camillo Ruini, năm nay 74 tuổi, người Ý. Một trong những điều mà ĐGH Gioan Phaolô II đặt tầm quan trọng rất tích cực là “bảo vệ sự sống chưa sinh ra”, và đó cũng chính là điều đức Ruini quan tâm. Một trong những mặt trận hàng đầu của Giáo Hoàng Gioan Phaolô II là bảo vệ sự sống và chắc chắn vấn đề này sẽ được tiếp nối trong triều giáo hoàng kế tiếp, hơn cả vấn đề đối thoại Liên Tôn và một số các quan tâm khác. Nếu trong cuộc bầu giáo hoàng kế tiếp mà ĐHY Ratzinger không được chọn, thì chắc chắn ảnh hưởng của Hồng Y Ratzinger hợp tác với ĐHY Ruini sẽ tạo ra một ảnh hưởng lớn lao trong việc chọn lựa người kế tiếp. Cả hai vị hồng y này đều xác tín là sự tương quan giữa Giáo Hội và thế giới tân tiến ngày nay sẽ được quyết định bởi điều mà hai vị gọi là “thánh đố về nhân chủng”, có nghĩa là cuộc chạm trán giữa cái nhìn Kitô giáo về con người và cái nhìn hạ con người xuống chỉ coi như là một thành phần của thiên nhiên mà thôi.

    ĐHY Angelo Scola, 63 tuổi người Ý và là giáo chủ thành Venice. Về phía tổ chức Opus Dei thì ĐHY Scola là người được tín nhiệm nhất. ĐHY Scola cùng với ĐHY người Áo là Cristoph Schönborn, cùng một quan điểm với khuân của ĐHY Ratzinger, không những về khả năng trí thức mà còn về đường hướng. ĐHY Scola có ảnh hưởng sâu rộng với các hồng y vượt ngoài biên giới Ý đại lợi, cũng bởi vì gần đây có xuất bản tờ đặc san bằng 5 ngôn ngữ có tên là “Ốc Đảo” (Oasis) bao gồm cả tiếng A-rập và Urdu. Tờ báo này được gửi miễn phí tới tất cả các vị hồng y và giám mục trong vùng thuộc Trung Đông và thế giới Hồi giáo tại Á châu nữa. D(HY Angelo Scola là một nhà trí thức, biết nhiều ngôn ngữ và viết sách râ1t nhiều, trong đó bàn về y sinh học. Và đây là vấn đề mà chắc chắn vị giáo hoàng tương lai phải đương đầu với.

    ĐHY Jorge Mario Bergoglio, năm nay 68 tuổi, người Argentina, Nam Mỹ. Ngài là TGM của thành Buenos Aires. ĐHY Bergoglio được coi là người có đời sống nội tâm cao độ kết hợp với khả năng quản trị uy quyền. Tuy nhiên sức khỏe ngài không được tốt lắm.

    ĐHY Norberto Rivera Carrera, năm nay 63 tuổi, là tổng giám mục thành Mexico City, một giáo phận lớn nhất thế giới với 19 triệu dân. Ngài rất tích cực trong các vấn đề xã hội. Lên tiếng mạnh mẽ về nhân quyền. Với tuổi 63 cũng được coi là quá trẻ cho việc bầu vử lần này.

    ĐHY Ivan Dias 68 tuổi và hiện là Tổng giám mục Bombay, Ấn Độ. Là một trong 11 hồng y Á châu tham dự Cớ Mật Viện bầu giáo hoàng lần này. Đã làm việc tại Vatican 30 năm trong ngành ngoại giao trước khi về lại quê hương phục vụ. Nói nhiều ngôn ngữ. Ngài du lịch rộng rãi trên thế giới. Đã làm trong Bộ Ngoại Giao Tòa Thánh và rồi làm sứ thần Tòa Thánh tại Đan Mạch, Thụy Điển, Norway, Iceland, Phần Lan, Indonesia, Mauritius, Triều Tiên và Albania. Được coi là một torng các ứng cử viên Giáo Hoàng của thế giới đang phát triển.

    Ngoài ra còn có ĐHY Ennio Antonelli, Tổng giám mục thành Florence và ĐHY Tarcisio Bertone 70 tuổi, tổng giám mục thành Genoa cũng được nhắc tới. Cả hai là chuyên viên giáo luật và là thư ký Thánh Bộ Đức Tin.

    Sở dĩ không đưa ra tên tuổi bất cứ vị hồng y người Hoa Kỳ nào là có nhiều lý do:

    1/ Vì Hoa Kỳ là một cường quốc về chính trị và kinh tế, nên đa số các vị hồng y thuộc các quốc gia khác không muốn thấy Hoa Kỳ trong vị thế lãnh đạo Giáo Hội.

    2/ Người Công giáo Hoa Kỳ chỉ có 6% so với dân số Công giáo thế giới, nên cũng không có ảnh hưởng gì.

    3/ Các vấn đề mà Giáo Hội Hoa Kỳ quan tâm thường có tính cách địa phương và không là mẫu số chung của các quốc gia khác, tỉ dụ như vấn đề cho linh mục lập gia đình, cho phụ nữ làm linh mục, cho giáo dân lãnh vai trò quan trọng trong giáo hội, v.v...Những vấn đề này có khi còn đi ngược lại trào lưu của Công giáo thế giới.

    4/ Đa số các vị hồng y Hoa Kỳ tuy rất giỏi về quản trị và rất có khả năng mục vụ, nhưng một cách chung người ta nghĩ rằng các ngài không có có cái nhìn bao quát về toàn thể các quốc gia trên thế giới (vì các ngài có sẵn các chuyên viên để sử dụng). Thêm vào đó, trừ ra một vài vị như ĐHY Francis George, Stanford và Rigali, còn các vị khác không nói được nhiều ngoại ngữ như đa số các hồng y các quốc gia khác.

    LM Trần Công Nghị - Vietcatholic.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Phi Châu theo dõi tang lễ của Đức Thánh Cha bằng sự xúc động

    Phi Châu theo dõi tang lễ của Đức Thánh Cha bằng sự xúc động

    VietCatholic News (08/04/2005) (MISNA 08/04/2005) - Phi Châu cũng chăm chú theo dõi tang lễ của Đức Thánh Cha được trực tiếp trên truyền hình, từ phía Đông là Cộng hoà Dân Chủ Congo đến Bờ Biển Ngà qua đến Burundi và Trung Phi, hàng ngàn tín hữu đã qui tụ nhau tại các giáo xứ, nhà thờ chính toà và nhà riêng để bày tỏ lòng tôn kính lần cuối đối với Đức Giáo Hoàng, người mà trong những chuyến tông du của ngài đến lục địa Phi Châu đã bày tỏ sự mật thiết với người dân mà trước đó chưa bao giờ có.

    Cha Luigi lo Stocco, nhà truyền giáo dòng Phanxicô Xavier cho hay: “Căn cứ vào múi giờ, ở Bukavu ( thủ phủ miền Nam của tỉnh Kivu phía Đông Congo), chúng tôi bắt đầu Thánh lễ ở Nhà thờ chính toà vào đúng 10 giờ, đồng thời với thánh lễ ở Quảng trường Thánh Phêrô; Nhà thờ chính toà chật ních người. Các dãy ghế đầu là các quan chức địa phương và quân đội, kế đó là các tín hữu. Ngoại trừ 3.000 tín hữu trong nhà thờ, giống như ở Quảng trường Thánh Phêrô, ở Bukavu này, những đám đông khổng lồ đứng ngoài các cửa và ngày càng đông hơn theo từng phút” Cha Luigi lo Stocco nhấn mạnh thêm: “Thiên nhiên ở Bukavu cũng khóc thương sự qua đời của Đức Thánh Cha, bầu trời xám xịt và mưa phùn làm cho không khí đượm thêm buồn”. Cha cũng cho hay Thánh lễ cũng kéo dài đến ba giờ. Theo các nguồn tin cung cấp cho TTX Công Giáo MISNA thì các thành phố chính khác của phía Đông Congo cũng diễn ra tương tự như Kisangani, Goma, Uvira, Kasongo và Kindu, trong khi thủ đô Kinshasa, một Thánh lễ cũng đã diễn ra ở nhà thờ Chánh toà trung tâm thành phố.

    Một nhà truyền giáo ở Bujumbura cho MISNA hay: “Tất cả các giáo xứ đều đặt TV bên trong và bên ngoài các nhà thờ để tiện truyền đi tin tức phát trên Truyền hình quốc gia Burundi về tang lễ của Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II”. Ngài giải thích thêm: “Hàng trăm và hàng trăm người đang đứng trước mặt tôi ở một giáo xứ nhỏ, trong yên lặng và đau buồn. Họ chủ yếu là giới trẻ và nhiều người trong họ tôi biết không phải là giáo dân, nhưng tôi thấy họ rơi lệ khi xem những hình ảnh đến từ Rôma”. Nhưng ở Bujumbura, thánh lễ chính được tổ chức ở nhà thờ chính toà, hàng ngàn người theo dõi lễ tang trên TV, Cha nói : “Nhiều người đặt TV ở cửa sổ để nhiều người khác có thể theo dõi tang lễ Đức Thánh Cha, trong khi những người khác mở cửa chính để bất kỳ ai cũng có thể theo sự kiện lịch sử này”.

    Mặc dù đang là giai đoạn nhạy cảm ở Bờ Biển Ngà trong những ngày này, một số vùng của Abidjan, thành phố chính của đất nước này, sáng nay phản ánh những gì xảy ra ở Rôma bằng đường phố vắng vẻ và cửa hàng đóng cửa để theo dõi đám tang mà toàn thế giới theo dõi trực tiếp trên TV. Cha Marco của giáo xứ Thánh Lawrence ở Abidjan cho hay: “Nhiều người vẫn còn ở trong nhà để theo dõi trực tiếp lễ tang”; Ngài nói thêm: “Thánh lễ sáng nay chúng tôi cử hành có rất ít người, chúng tôi cố tìm lý do và họ giải thích với chúng tôi rằng nhiều người hẹn nhau đến nhà bạn bè để theo dõi lễ tang của Đức Thánh Cha”.


    John Bosco Hoàng Thương - Vietcatholic.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Đức Hồng Y Francis Arinze, vị Giáo Hoàng thứ 265?

    Đức Hồng Y Francis Arinze, vị Giáo Hoàng thứ 265?

    VietCatholic News (10/04/2005) Đức Hồng Y Francis Arinze sinh ngày 1/11/1932 tại Eziowelle, một thành phố thuộc tổng giáo phận Onitsha, Nigeria. Ngài là người thuộc bộ tộc Ibo và thân phụ ngài là trưởng bộ tộc này. Ngài cải đạo sang Công Giáo vào năm lên 9 tuổi. Đến năm 15 tuổi ngài bắt đầu chương trình trung học tại chủng viện Ognissanti tại Nuewi và kết thúc chương trình trung học tại Enugu vào năm 1950.

    Trong hai năm sau đó, ngài dạy học tại ngay chủng viện này cho đến năm 1953 khi ngài bắt đầu chương trình triết học tại chủng viện Bigard Memorial tại Enugu. Vào năm 1955, ngài bắt đầu học Thần Học tại đại học Ubanô Rôma. Năm 26 tuổi, ngày 23/11/1958, ngài được thụ phong linh mục tại nhà nguyện của tại đại học Ubanô.

    Trong hai năm 1961 và 1962, ngài là giáo sư Phụng Vụ tại chủng viện Bigard Memorial Enugu. Tại đây, ngài cũng dạy Nhập Môn Luận Lý Học và Triết Học Căn Bản. Sau đó, ngài được bầu làm giám đốc Giáo Dục Công Giáo miền Đông Nigeria. Ngài theo học về Sư Phạm tại Đại Học Sư Phạm Luân Đôn và có bằng Cao Học Giáo Dục tại đây năm 1964.

    Ngày 6/7/1965, ngài được bổ nhiệm Giám Mục Phụ Tá Onitsha và ngày 29 tháng 8 năm đó được tấn phong. Ngày 26/6/1967, ngài được tấn phong Tổng Giám Mục Onitsha.

    Năm 1979, ngài được Hội Đồng Giám Mục Nigeria đề cử chủ tịch Hội Đồng Giám Mục nước này và giữ chức vụ này cho đến năm 1984 khi Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II gọi ngài về Rôma giữ chức giám đốc văn phòng đặc trách các tôn giáo không phải Kitô. Tuy nhiên, trong thực tế, ngài vẫn tiếp tục là Tổng Giám Mục Onitsha cho đến tháng Tư 1985 trong khi chờ đợi người kế vị.

    Tháng Năm 1985, Đức Thánh Cha nâng văn phòng lên thành Ủy Ban Tòa Thánh về Đối Thoại Liên Tôn và ngài là chủ tịch. Ngài đã liên tục giữ chức vụ này cho đến tháng 10 năm 2002.

    Ngài được tấn phong Hồng Y ngày 25/5/1985.

    Từ ngày 1/10/2002, Đức Thánh Cha cử ngài giữ chức bộ trưởng bộ Phụng Tự và Kỷ Luật Bí Tích.

    Trong giáo triều Rôma, Đức Hồng Y Francis Arinze là thành viên

    Bộ Giáo Lý Đức Tin, Bộ Các Giáo Hội Đông Phương, Bộ Phong Thánh, Bộ Truyền Giảng Tin Mừng Cho Các Dân Tộc.
    Hội Đồng Tòa Thánh về Giáo Dân, Hội Đồng Tòa Thánh về Hiệp Nhất Các Tín Hữu Kitô, Hội Đồng Tòa Thánh về Văn Hóa.
    Ủy Ban Hội Nghị Quốc Tế về Thánh Thể

    Nguyễn Việt Nam - Vietcatholic.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Đức Hồng Y Dionigi Tettamanzi, vị Giáo Hoàng thứ 265?

    Đức Hồng Y Dionigi Tettamanzi, vị Giáo Hoàng thứ 265?

    VietCatholic News (10/04/2005) Đức Hồng Y Dionigi Tettamanzi, Tổng Giám Mục Milan, Italia, sinh ngày 14/3/1934 tại Renate, Italia. Năm 11 tuổi ngài gia nhập tiểu chủng viện Seveso San Pietro. Sau đó, ngài học tại đại chủng viện Lower Venegono cho đến năm 1957 khi ngài nhận được văn bằng cử nhân Thần Học. Ngày 28/6/1957, ngài được thụ phong linh mục tại tổng giáo phận Milan. Ngài tiếp tục học lên và hoàn thành Tiến Sĩ Thần Học tại Đại Học Grêgôriô tại Rôma.

    Trong hơn 20 năm, ngài đã dạy Thần Học Căn Bản tại đại chủng viện Lower Venegono và Thần Học Mục Vụ tại Học Viện Đức Maria Vô Nhiễm dành cho các linh mục và Học Viện về Mục Vụ tại Lombard, Milan. Ngài là tác giả của rất nhiều sách về Thần Học, Tu Đức và Mục Vụ.

    Ngài tham gia tích cực vào ngành truyền thông qua các chương trình mạn đàm trên truyền hình, các hội nghị và các khóa linh thao. Ngài cộng tác thường xuyên với tờ Quan Sát Viên Rôma và Avvenire (Tương Lai). Ngoài ra ngài còn tích cực tham gia vào các phong trào như Oari (mục vụ cho người đau yếu) hay các tổ chức Tư Vấn Gia Đình, Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo Italia …

    Ngày 11/9/1987 ngài được cử giữ chức Giám Đốc chủng viện Giáo Hoàng Lombard. Ngày 28/4/1989, ngài được bầu làm chủ tịch ban giám đốc tờ Avvenire.

    Ngày 1/7/1989, Ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II bổ nhiệm Tổng Giám Mục Ancona-Osma và được tấn phong ngày 23/9/1989. Ngài được đề cử chủ tịch Hội Đồng Giám Mục vùng Marche và tháng 6/1990 được đề cử chủ tịch ủy ban Gia Đình thuộc Hội Đồng Giám Mục Italia.

    Ngày 14/3/1991, ngài được đề cử chức vụ tổng thư ký Hội Đồng Giám Mục Italia. Ngày 20/4/1995, ngài được Đức Thánh Cha bổ nhiệm Tổng Giám Mục Genoa.

    Từ 25/5/1995, ngài được đề cử chức vụ phó chủ tịch Hội Đồng Giám Mục Italia. Tháng Giêng 1998, ủy ban thường trực Hội Đồng Giám Mục Italia cử ngài là tuyên úy cho Hiệp Hội Y Khoa Công Giáo Italia.

    Ngài đã từng tham dự trong tư cách chuyên viên tại Thượng Hội Đồng Giám Mục về Gia Đình (1980), về Giáo Dân (1987) và với tư cách Nghị Phụ tại Thượng Hội Đồng Giám Mục Châu Âu (1991 và 1999), và Thượng Hội Đồng Giám Mục về Đời Sống Thánh Hiến (1994).

    Ngày 21/2/1998, ngài được Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II tấn phong Hồng Y hiệu tòa các Thánh Ambrô và Chales.

    Ngày 11 Tháng 7, năm 2002, Đức Thánh Cha bổ nhiệm ngài là Tổng Giám Mục Milan.

    Tại giáo triều Rôma, ngài là thành viên:

    Bộ Giáo Sĩ, Bộ Giáo Dục Công Giáo, Bộ Các Giáo Hội Đông Phương.
    Văn Phòng Kinh Tế Vụ

    Nguyễn Việt Nam - Vietcatholic.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?