Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, April 12, 2005

CHỨNG NHÂN HI VỌNG: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II (tiếp theo)

CHỨNG NHÂN HI VỌNG: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II (tiếp theo)

VietCatholic News (07/04/2005) CHỨNG NHÂN HI VỌNG: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II

Tác Giả: George Weigel; do nhà xuất bản Harper-Collins Publisher Inc., 1999

MỘT TRIỀU GIÁO HOÀNG KIỂU MỚI

Khi lên ngôi Giáo Hoàng, chủ điểm ngài chọn là đem chủ thuyết nhân bản Kitô giáo làm câu trả lời cho cơn khủng hoảng đang xẩy đến với nền văn minh nhân loại trước thềm thế kỷ 21. Theo ngài, nhiệm vụ của Giáo Hội không phải là uốn nắn thế giới chính trị khuôn rập với thế hệ của quản thần và quyền thần như trước đây, mà là truyền dậy chân lý về nhân phẩm bất khả nhượng và giá trị nhân vị, nhờ đó, uốn đúc chính trị bằng việc kiến tạo một nền văn hóa nhân bản.

Sau đây là một số thành quả có thể xác định được trong triều Giáo Hoàng Gioan Phaolô II.

1. Canh tân giáo triều

Đức Gioan Phaolô II đã đưa triều giáo hoàng của thế kỷ 21 trở ngược về thời thế kỷ thứ nhất, thời của Phêrô như là nhà tiên phong rao giảng Tin Mừng, người đầu tiên trong Giáo Hội làm nhân chứng cho chân lý, được mạc khải qua đời sống, cái chết và sự phục sinh của Chúa Kitô. Ngài đã đập vỡ mô thức “Giáo hoàng quản trị,” kiểu một CEO của “Công Ty Giáo Hội Công Giáo La Mã,” theo lối nói thời đại. Ngài cũng phá đổ lề lối làm việc “thủ tục,” tỉ như ngài đích thân viết thư mời một vị khách đến dự lễ ngài làm riêng, hay đến đàm đạo riêng tư, hoặc dùng bữa với ngài--một việc lẽ ra chỉ dành riêng cho phòng giáo triều hay Quốc Vụ Khanh. Do đó mới có những chi tiết lý thú và đầy ý nghĩa chưa hề được tiết lộ, nhất là liên quan đến những quan hệ ngoại giao. Cuộc hội đàm giữa phát ngôn viên Toà Thánh, Joaquin Navarro-Valls với chủ tịch Fidel Castro để dọn đường cho chuyến viếng thăm Cu ba là một thí dụ. Tại sao? Bởi vì trước hết và trên hết, Giáo Hoàng chính là mục tử, là nhà rao giảng Tin Mừng, và là chứng nhân.

2. Phát triển di sản Công Đồng (CĐ) Chung Vaticanô II

Suốt 21 năm trời, ĐGH đã duy trì và phát triển di sản quí báu mà CĐ Vaticanô II đã để lại như một biến cố mang mầu sắc anh hùng ca thánh thiêng, qua đó Giáo Hội nắm bắt được thế giới hôm nay bằng việc xây dựng một ý thức phơng phú về sứ mệnh duy nhất của mình. Theo ĐGH, hai trục điểm chính mà CĐ xoay quanh là (1) Đức Kitô, Đấng Cứu Độ gian trần, đã mạc khải chân lý lạ lùng về thân phận con người và về định mệnh sau cùng của chúng ta, và (2) tình yêu trao hiến chính là hướng đi theo đó tự do nhân loại có thể đạt đến mức viên thành rực rỡ. Tự do con người vừa là khát vọng lớn lao, vừa là song quan luận hóc búa cho nhân loại hôm nay. Câu trả lời mà Tin Mừng dành cho vấn nạn về tự do con người chính là “hãy phục vụ.” Một trong những phục vụ mà Giáo Hội có thể cống hiến cho nhân loại hôm nay, chính là khẳng định rõ ràng và dứt khoát rằng tự do phải hướng về sự thật, và tự do được viên thành trong sự thiện.

3. Góp phần lật đổ chế độ cộng sản

Niềm xác tín về sự tự do này đã gây cảm hứng đưa đến các thành quả về mặt xã hội. Vai trò cốt cán của ngài trong việc lật đổ chủ nghĩa cộng sản Âu Châu chỉ có thể hiểu được bằng nhãn quan nhìn nó “từ bên trong” như là thành công của vị mục tử can trường, dám can đảm nói lên sự thật trước mặt bạo quyền. Khi đem cách mạng lương tâm gợi hứng cho cách mạng bất bạo động chống lại chủ thưyết Mác Lê, ĐGH không chỉ giúp phục hồi tự do chính trị cho đồng bào của mình đàng sau bức màn sắt; ngài còn chứng tỏ rằng văn hoá--chứ không phải chính trị hoặc kinh tế--mới chính là guồng máy của lịch sử.

4. Trình bầy thách đố luân lý.

Đây chính là bài học ngài áp dụng khi tìm kiếm tự do tại Đông Á và Châu Mỹ La tinh, và cũng là thách đố ngài đặt ra cho các nền dân chủ cũ và mới trong thập niên 1990. Các cộng đồng tự do kinh tế và dân chủ chính trị phải được xây dựng trên một nền văn hoá luân lý công cộng nhậy bén, có khả năng kiềm toả các nguồn năng lực mãnh liệt mà tự do đã thả lỏng. Tự do thì luôn luôn dòn mỏng. Do đó, ĐGH lặp đi lặp lại rằng nền tảng vững chãi nhất của nó chính là nhìn nhận phẩm giá con người như là hữu thể mang lấy những quyền do Thiên Chúa tặng ban.

5. Kiến tạo hiệp nhất Kitô hữu

Chủ thưyết nhân bản Kitô giáo này cũng đã gợi hứng cho ngài trong sáng kiến tìm kiếm sự hiệp nhất Kitô hữu, trong nỗ lực bắt mối liên lạc mới với Do Thái Giáo, cũng như trong cuộc đối thoại với các tôn giáo hoàn cầu khác. Trong lúc một vài nhà đại kết kỳ cựu của thế kỷ 20 đang bỏ cuộc tìm kiếm sự hiệp nhất bén rễ trong cùng một đức tin, thì ĐGH nhấn mạnh rằng sự hiệp nhất đáng theo đuổi nhất chính là sự hiệp nhất trong chân lý mà Chúa Kitô đã để lại cho Giáo Hội như một di sản. Sứ mệnh đại kết chính là tái tạo và trình bầy sự hiệp nhất này một cách trọn vẹn hơn nữa.

6. Mở rộng đối thoại với Do Thái Giáo

Chính nhờ triều Giáo Hoàng này mà Công Giáo và Do Thái Giáo đàng đứng bên bờ của cuộc đối thoại thần học mới. Một lúc nào đó trong đệ tam thiên kỷ, tín hữu Do Thái giáo và Kitô giáo sẽ bắt đầu nói chuyện lại với nhau về sự tưyển chọn, về giao ước, về các xác tín luân lý chung, và về niềm hi vọng thiên sai chung.

Đã một ngàn chín trăm năm nay, điều tưởng như ở ngoài sức tưởng tượng, thì nay hạt giống đối thoại đã được ĐGH gieo trồng, đáp lại tiếng gọi của CĐ Vaticanô II. Về mặt ngoại giao, bốn năm trước, Vatican và Do Thái đã trao đổi đại sứ. Tiếp đó là Thỏa Uớc Căn Bản ký năm 1993, lần đầu tiên đặt nền pháp lý cho Giáo Hội Công giáo tại Thánh Địa.

7. Xác định lại ý nghĩa đối thoại liên tôn

Với ĐGH, mọi chân lý đều liên quan đến Chân Lý Duy Nhất là Thiên Chúa. Niềm xác tín này định hướng cho những sáng kiến đối thoại với Hồi Giáo và những liên lạc với các nhà lãnh đạo tôn giáo thế giới như Đức Dalai Lama. Trước hiểm họa võ lực và chủ nghĩa tục hóa được các chính phủ hỗ trợ, ĐGH luôn nhấn mạnh rằng tự do tôn giáo chính là ngọn nguồn và thành trì bảo vệ tòa nhà nhân quyền.

8. Nguồn linh hứng cá nhân có sức biến đổi vô số cuộc đời

Các thành công lịch sử của ĐGH phải được đo lường bằng tầm ảnh hưởng ngài đã tạo nên trên hàng triệu cuộc đời. Đã hai mươi năm qua, ngài đã gợi hứng cho biết bao tâm hồn, nam phụ lão ấu, đàng cố đương đầu với thử thách của lời ngài trấn tĩnh ngay từ ngày đăng quang: “Đừng sợ!” Chính ngài đã sống hết sức thanh thản lời trấn an này. Bởi đó, ngài đã chuyển đổi ngay cả hướng đi của lịch sử. Theo Milovan Djilas, một nhà bất đồng chính kiến Nam Tư, tính bất khuất của ĐGH đã gây cho ông ấn tượng sâu đậm nhất. Bất khuất--chứ không khắc kỷ, độc lập--là một phẩm tính Kitô giáo. Trong niềm tin Kitô giáo, nỗi sợ hãi không bị loại trừ, mà được biến đổi, nhờ một gặp gỡ cá nhân sâu xa với Chúa Kitô và thập gía Ngài, noi đó nhân loại có thể sống vuợt lên trên nỗi sợ.

Chỉ cần lược qua tám thành quả vừa nêu cũng đủ cho thấy triều Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II sẽ định hướng cho thế giới Công Giáo, một hiệp thông của hơn một tỉ tín hữu, cho những thế kỷ sắp tới. Hẳn nhiên, điều này cũng tùy thưộc vào cách con người thời đại am hiểu và sống ý nghĩa hai chữ “tự do.” Có thể rằng lối hiểu tự do như là khả năng tự khẳng định sẽ lấn át ý nghĩa tự do mà ĐGH đã giải thích. Tuy nhiên, điều ngài đã khẳng định tại Liên Hiêp Quốc năm 1995, cuộc tìm kiếm tự do của con người xét như một “năng động lực lớn nhất của lịch sử nhân loại” sẽ còn phải kinh qua cuộc thử lửa nghiêm trọng nhất. Di sản của ĐGH Gioan Phaolô II sẽ còn là đề tài tranh cãi gay go.

Wojtyla không những đã thể hiện từng chữ trong lời G. K. Chesterton mô tả về thánh Tôma More: “..trên hết, ngài chính là lịch sử, bởi ngài vừa là kiểu mẫu, vừa là khúc quanh, lại vừa là định mệnh tối hậu. Nếu đã không có một nhân vật như thế, trong một thời điểm như thế, thì cả dòng lịch sử đã đổi khác.” Cũng như Tôma More, các phẩm tính lịch sử của ngài không phải là của con người một cách chung chung, mà là các phẩm tính tôn giáo, nói khác đi, đó là các phẩm tính Kitô giáo.

THAY CHO LỜI KẾT LUẬN:

“Để nhìn mặt trời mọc”

Một cách nào đó, mọi vị Giáo Hoàng đều là những con người của mầu nhiệm, không phải do cung điện nơi các ngài làm viêc, cũng không phải do lịch sử huy hoàng của nó, mà là do chính Mầu Nhiệm mà các ngài phục vụ. Là chân lý của nhân loại biểu tỏ qua cuộc sống, cái chết, và sự phục sinh của Chúa Kitô, Mầu Nhiệm này chính là ngọn nguồn chứng tá hi vọng của ĐGH Gioan Phaolô II. Niềm hi vọng này khiến cho Giáo Hội Công Giáo của thế kỷ 21 sống Tin Mừng trong thời điểm mà ngài tin rằng sẽ là “tân xuân của tâm linh con người.” Cũng chính niềm hi vọng ấy đã thúc đẩy ngài hoàn tất 80 năm cuộc đời, và chuẩn bị cho ngài lên đường hành hương về những địa danh lẫy lừng nhất của Thánh Kinh.

Ông Piotr và phu nhân Têrêsa Malecki, những người bạn cố tri của ĐGH từ hồi thập niên 1950, đã là khách nghỉ hè của ngài tại điện Castel Gandolfo mùa hè 1997. Phòng ngủ của họ ở ngay bên dưới phòng ngủ của ngài. Qua tiếng gõ của cây gậy trên nền nhà, họ biết lúc nào ngài thức dậy vào tảng sáng. Một hôm khi ăn sáng, ĐGH có ý hỏi xem ngài có gây tiếng động phiền hà cho giấc ngủ của họ chăng. Họ trả lời rằng không, bởi vì dù sao họ cũng phải dậy để còn đi dự lễ. Họ hỏi ngài: “Sao Đức Thánh Cha lại dậy sớm thế?” Ngài trả lời: “Tôi thích nhìn mặt trời mọc.”


Nguyễn Kim Ngân - Vietcatholic.net
Comments: Post a Comment

<< Trở Về Trang Chính - Trang Đầu
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?