Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, April 12, 2005

Chứng nhân Hy Vọng: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II

Chứng nhân Hy Vọng: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II

VietCatholic News (06/04/2005) CHỨNG NHÂN HI VỌNG: Tiểu sử ĐGH Gioan Phaolô II

Tác Giả: George Weigel; do nhà xuất bản Harper-Collins Publisher Inc., 1999

LTS: ĐGH Gioan Phaolô II vừa nằm xuống trong sự tiếc thương vô vàn của toàn thế giới. Không thể nói hết được những lời tán dương ca tụng dành cho “nhân vật của thế kỷ“ đến từ khắp bốn phương trời, từ các nhân vật thuộc đủ mọi tầng lớp, mầu da, ngôn ngữ, địa vị, đạo cũng như đời. Nếu "cọp chết để da, người ta chết để tiếng," thì đâu là cái ‘tiếng’ của ĐGH Gioan Phaolô đệ nhị? Nói cách khác: Lịch sử sẽ phán xét vị Giáo Hoàng này như thế nào? Để trả lời phần nào câu hỏi này, xin gửi đến độc giả bài điểm sách sau đây, đã được đăng trên Tuần Báo Chính Nghĩã, số 491, ra ngày 16 tháng 10 năm 1999, cũng như để tưởng niệm vị Cha Chung lỗi lạc của chúng ta và một vĩ nhân của thời đại.

Trong cùng một tuần lễ, hai tờ tuần báo, một đạo--Our Sunday Visitor--số ra ngày 26 tháng 9 năm 1999, Volume 88, No. 22, và một đời--US News & World Report--số ra ngày 27 tháng 9 năm 1999, cùng đề cập đến một cuốn tiểu sử mới viết về ĐGH Gioan Phaolô II, một trong những khuôn mặt lớn nhất của thế kỷ 20, theo cuộc thăm dò và bình bầu của tuần báo Time (tính cho đến đầu tháng 10/1999, ngài về hạng 6, với khoảng 10 phần trăm số phiếu bầu của các tham dự viên).

Tờ báo đời trích dẫn một phần lời phi lộ của chính tác giả, một thần học gia Công Giáo, cũng là thành viên của “Ethics & Public Policy Center”(Trung Tâm Đạo Đức và Chính Sách Công Cộng) tại thủ đô Hoa Thịnh Đốn. Tuy không phải là người đầu tiên viết tiểu sử ĐGH, nhưng sau ba năm làm việc, cộng với khoảng 20 giờ đàm đạo với ĐGH, được thoải mái sử dụng các nguồn tham khảo tại Vatican --một chuyện không phải thông thường--kể cả việc đọc các lá thư ĐGH liên lạc riêng với các nhà lãnh đạo thế giới, tác giả George Weigel đã chứng tỏ mình là nhà viết tiểu sử uy tín và bao quát nhất. Lý do là, mặc dù không được chính thức công nhận là cuốn tiểu sử “được ủy quyền” nhưng hơn hẳn các cuốn trước, cuốn này cho thấy rõ hơn tư tưởng và hình ảnh thâm sâu của Karol Wojtyla (tên thật của ĐGH) trong tư cách của một con người, một nhà tư tưởng, và một nhà lãnh đạo thế giới. Chắc vì thế mà tờ báo đời đã chạy cái tựa là “Dung Mạo Sâu Kín của ĐGH Gioan Phaolô II.”

Tờ báo đạo đăng bài điểm sách của William Bole, nhà bỉnh bút lão thành của tờ tuần báo công giáo ‘Our Sunday Visitor.’ Cái tựa đề bài điểm sách đăng hai kỳ thật sự khó hiểu vì lối chơi chữ :“The inside story of An Outsider in Rome” (Câu truyện bên trong của một kẻ Ngoại Cuộc tại Rôma). Nhưng đó lại chính là một trong những dụng đích của cuốn tiểu sử mà ta cùng đọc bây giờ để cảm thấy tự hào về vị cha chung lỗi lạc mà thêm lòng kính yêu, ngưỡng mộ, đồng thời thêm lời cầu nguyện cho nhân vật đã ’nên cớ vấp phạm cho nhiều người’ y như Thầy Chí Thánh của ngài, chỉ bởi vì ngài đã dám nói lên sự thật, sự thật phũ phàng và đau lòng của một nhân loại suy đồi, cho dù đang ở trên đỉnh chót vót của tiến bộ và văn minh.

Quả vậy, đứng trước thềm thế kỷ 21 với vô vàn hứa hẹn, nhìn thấy sức khỏe suy kiệt của cụ già bát tuần, nhiều người, kể cả con cái trong nhà, cũng đang nghĩ đến ngày tàn của triều giáo hoàng này, cũng như đang ngấm nghé tìm người kế vị ngài. Biết bao nhiêu ‘lời ong tiếng ve’ bu kín ‘ông gìa gân’ này, thậm chí có kẻ như nhà trí thức người Ái Nhi Lan Conor Cruise O’Brien đã thẳng thừng nhìn nhận rằng mình đã cầu nguyện hằng ngày cho ngài sớm…chết (hôm nay Chúa đã nhận lời ông này rồi!). Còn như tiểu sử gia Tad Szulc thì mô tả ngài như là cụ già ngày càng giầu xúc cảm và ‘cứng đầu’ khi nhìn thấy tội tình nhân thế. Ông này còn thêm rằng càng ngày, cụ già càng bẳn tính vì chẳng hiểu nổi cõi thế nhân mình đã góp công tạo tác. Chúng ta sẽ đề cập đến điều nghịch lý này…Giờ đây ta chỉ thấy rằng, trái với sự chờ đợi của nhiều người, ĐGH Gioan Phaolô II không hề nghĩ đến những thứ tận cùng ấy, mà chỉ chú tâm huớng đua Giáo Hội đi vào đệ tam thiên kỷ, và buớc vào ’mùa tân xuân của đời Kitô hữu.’

NGHỊCH LÝ CỦA VỊ GIÁO HOÀNG

Triều Giáo Hoàng của Đức Gioan Phaolô II hẳn là một trong những triều đại quan trọng nhất trong nhiều thế kỷ, không chỉ cho riêng Giáo Hội Công Giáo, mà còn cho cả thế giới. Với Công Đồng Vaticanô II, khi mối liên hệ giữa Giáo Hội và thế giới tân thời được thiết lập, ĐGH đã huớng dẫn toàn thể khối Công Giáo vững buớc vào đệ tam thiên kỷ. Ngài còn là nhân vật được nhiều người biết đến nhất, qua hằng trăm chuyến công du mục vụ. Tầm vóc của ngài còn vươn mạnh khôn lường khi nhìn duới ống kính truyền hình.

Tuy vậy, ngài cũng là khuôn mặt lớn mà lại ít được thấu hiểu nhất. Với hàng triệu người, ngài chính là hiện thân của luân lý và đạo đức, nhà quán quân của lý tưởng tự do, nhân ái. Thế nhưng, có người lại cho rằng ngài là một kẻ độc tài không khoan nhượng, người kéo lùi Giáo Hội trở lại thời khắc khổ xưa kia, thời mà Công Đồng Vaticanô đã cố đẩy vào bóng tối. Người khác, tuy thán phục ngài trong vai trò bảo vệ nhân quyền, nối vòng tay với Do Thái Giáo, dấn thân cho hòa bình, nhưng lại không thể ‘chịu nổi’ nền thần học và phán quyết luân lý của ngài. Tờ tuần báo Time, số ra ngày 27 tháng 9 năm 1999 đã cho chạy một trang quảng cáo cho một chương trình truyền hình của đài PBS về ĐGH với cái tựa: “Giáo Hoàng đang ủng hộ hay chống lại thời đại chúng ta? Giáo Hoàng tuyên chiến với thế kỷ 20?” Thực ra, những ai thân cận và làm việc hàng ngày với ngài, kể cả những ai bất đồng với một vài quyết định hoặc cách làm việc của ngài, cũng đều nhất loạt chứng thực rằng ngài rất mực thánh thiện, hết sức từ tâm, vô cùng kiên nhẫn và chịu lắng nghe. Tuy nhiên, ngài rất nhậy bén với cảm thức sâu xa về sự riêng tư. Là nhà thần bí chính hiệu, ngài thấy rất khó diễn tả cảm nghĩệm tôn giáo sâu xa trong lòng mình. Chỉ khi thấy ngài cầu nguyện một mình trong ngôi nhà nguyện bé nhỏ, người ta mới biết được có một cõi riêng trong cũng lòng ngài dành trọn cho Chúa, Đấng đàm đạo duy nhất với ngài trong cuộc trò chuyện mà không ngôn từ nào lột tả hết được. Thế nhưng chính trong lúc này, khi rập mình qùi gối lậy thờ mà ngài đã thực hiện những quyết định quan trọng nhất.

Thêm vào đó, bản chất “Ba Lan” cũng là một trở ngại khiến người ta không thể hiểu ngài. Hẳn nhiên, đây là do một thứ thành kiến mà phía Tây Âu đã gán ghép cho dân tộc này. Đó là chua kể đến những truyền thống khép kín của những vị làm việc trong nội bộ Vatican đối lại với tập quán hoài nghĩ của những người bên ngoài hằng muốn soi mói các hoạt động bên trong.

“HIỂU TỪ BÊN TRONG”

Muốn giải mã cho sự nghịch lý này, chỉ có cách là tìm hiểu sâu xa hơn nữa. Có một lần, ĐGH đã nhận xét thế này: “Người ta chỉ cố tìm hiểu ta từ bên ngoài, nhưng ta lại chỉ có thể hiểu được từ bên trong.” Vậy đâu là cái bên trong này? Làm sao bóc trần nó ra được? Có thể phải trở ngược về những năm tháng đầu đời của ngài, khi các biến cố đau thương dồn dập thúc ép ngài nhìn hiện hữu con người như là phi lý. Sống duới chế độ Đức Quốc Xã, ngài dần dà xác tín rằng cơn khủng hoảng của cả nhân loại là cơn khủng hoảng của chính ý tưởng về nhân vị. Lịch sử được lôi kéo bởi văn hóa và các ý tưởng cấu thành văn hóa. Ý tưởng phát sinh kết quả. Nếu ý tưởng về nhân vị thống lĩnh một nền văn hóa mà sai sót, thì hai sự việc có thể xẩy ra: (1) hoặc nền văn hóa ấy sẽ sản sinh ra các tham vọng tiêu diệt, (2) hoặc là nó sẽ không thể thực hiện được các niềm hi vọng sâu xa nhất, ngay cả khi nền văn hóa ấy diễn tả các nguyện vọng bằng những từ ngữ nhân bản cao cả nhất. Thời đại ta đang sống rất tự hào về nền nhân bản của mình, và công bố rằng tự do chính là nguyện vọng cao cả nhất. ĐGH cũng chia sẻ niềm tự hào và khát vọng này. Nhưng đã lâu lắm rồi, ngài vẫn tự hỏi: làm sao có thể thể hiện được nhân bản tính trong một thời đại mà những công trình của trí tuệ đang đe dọa chính hiện hữu con người? Trải qua thời Đức Quốc Xã và chiến tranh lạnh, ngài càng thêm xác tín rằng luân lý không chỉ là một thứ phụ tùng do văn hóa gắn tạo nơi con người. Trái lại, “Làm người chính là trở thành tác nhân luân lý.” Do đó, con người mang lấy cái thân phận bi thảm là cứ bị giằng co giữa “cái mình là” và “cái mình phải là.” Thế giằng co này chính là cuộc đối diện với thực tại sự ác. Cuộc tàn sát tập thể và cảnh đọa đầy khổ sai hẳn nhiên là sự ác của nhân loại. Nhưng ngay trong đời sống thuờng ngày, cảnh người bóc lột người, dù là về kinh tế, chính trị, xã hội hay phái tính, cũng đều là sự ác đúng nghĩã. Tuy nhiên, ngài tin rằng sự ác không phải là tiếng nói cuối cùng, bởi lẽ ngay giữa thảm kịch con người, còn có Đức Kitô, Đấng đã đi vào thân phận con người và đã chinh phục cái chết. Điều này có nghĩã là niềm hi vọng vừa không là một ảo tưởng, vừa không là cuộc tự vệ tưởng tượng được tạo ra để chống lại nỗi sợ hãi đang đe nặng con tim nhân loại. ĐGH tin rằng đức hi vọng, hoặc cậy trông, mà tâm điểm là Đức Kitô, mới chính là chân lý của nhân loại.

NGUỜI MÔN ĐỆ THUẦN THÀNH

Muốn hiểu Karol Wojtyla ’từ bên trong,’ thiết tưởng phải nghĩ về ngài không theo phạm trù qui uớc ‘tả--hữu,’ vừa thiếu sót lại vừa không phù hợp để lột tả ‘cái bên trong’ của vị Giáo Hoàng này. Qủa vậy, lối phân biệt qui uớc nêu trên đã dường như bị ngài đánh đổ. Khi thì người ta cho rằng ngài thật ‘bảo thủ về mặt tín lý,’ khi thì bảo rằng ngài ‘cấp tiến về mặt xã hội-chính trị.’ Thế thì có hai Wojtyla hay sao? Không phải thế! Chỉ có một Wojtyla duy nhất mà thôi. Có điều là Wojtyla này là một Kitô hữu có mức xác tín về chân lý mãnh liệt đến độ nó thẩm thấu vào tất cả những gì ngài làm.

Nói theo triết học, chủ nghĩã “Kitô giáo triệt để“ này đã thúc đẩy ngài dấn thân đối thoại liên lỉ với kẻ không tin, cũng như với người đã tin nhưng lại có lập trường khác biệt về thần học. Năm 1995, ngài tuyên bố như sau tại Liên Hiệp Quốc: “Với tư cách là một Kitô hữu, tâm điểm của niềm hi vọng và sự tin tưởng của tôi chính là Đức Kitô, Đấng vừa là Thiên Chúa, vừa là con người, và do đó, Người đã tạo nên một phần lịch sử nhân loại. Niềm hi vọng Kitô giáo mở ra cho thế giới, nhờ thế tương lai của nó vươn trải tới hết mọi người.” Nói theo ngôn ngữ Thánh Kinh, ngay từ rất sớm trong đời, Karol Wojtyla đã muốn “nắm bắt lối sống thiện hảo hơn,”điều mà thánh Phaolô mô tả như là hồng ân thiêng liêng lớn lao nhất (1 Cor 12:31). Đó là nếp sống nhuần thấm Chúa Kitô, thẩm thấu chân lý biến đổi cuộc đời mà Wojtyla đã tự nguyện bước theo như là hướng đời duy nhất của mình. Niềm tin không hề là một phần đời, mà là trót cả cuộc đời Wojtyla ở mức độ sâu thẳm nhất.

Nếu dấu chỉ của thời đại chúng ta là ráp nhặt từng mảnh vụn đây đó để làm thành nhân cách--tôn giáo ở chỗ này, chính trị ở chỗ khác, luân lý ở đây, còn sở thích ở kia--thì nét căn có tạo thành tính nhất quán cho đời sống ĐGH hẳn là hiếm thấy, hoặc nếu thấy được thì cũng lạc lõng, dị kỳ làm sao ấy. Thế nhưng chính bởi nét căn cơ này mà Đức Gioan Phaolô II đã dõng dạc tuyên bố: “Đừng sợ!”

Được trui rèn qua những xung đột lớn của thế kỷ 20, cả về chính trị lẫn ý hệ, cuộc đời ngài chính là hiện thân của lời tuyên bố ấy. Lời ngài rao giảng cũng như sứ vụ công khai đều toát ra vẻ hiên ngang bất khuất này. Bởi vì ngài xác tín rằng Đức Kitô chính là câu trả lời cho mọi thắc mắc của mỗi một người. Nói khác đi, muốn hiểu Karol Wojtyla ’từ bên trong’, thì phải hiểu ngài với tư cách người“môn đệ.”

(còn một kỳ)


Nguyễn Kim Ngân - Vietcatholic.net



Close Window
Comments: Post a Comment

<< Trở Về Trang Chính - Trang Đầu
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?