Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, April 12, 2005

Góp nhặt một vài nhận định về ĐGH Gioan Phaolô II (1920-2005)

Góp nhặt một vài nhận định về ĐGH Gioan Phaolô II (1920-2005)

VietCatholic News (08/04/2005)

I. Giáo Hoàng của Cách Mạng Chân Chính

Đó là tựa đề bài bình luận mà James Caroll, bỉnh bút tờ Boston Globe, tác giả cuốn “Luỡi Gươm Constantine,” đăng trên tuần báo Time số ra ngày 11 tháng 4 năm 2005. Theo ông, người ta có xu hướng cho rằng ĐGH Gioan Phaolô II là một Giáo Hoàng bảo thủ, gắn chặt với truyền thống, bảo vệ Giáo Hội trước đủ mọi loại thế lực ‘giải phóng.’ Thực ra, theo Caroll, hiểu như thế là sai, bởi vì ĐGH đã lãnh đạo một cách đầy bản lãnh một trào lưu cách mạng về chính trị và thần học. Ngài là một Giáo Hoàng của thay đổi, đã hoàn thành được hai công trình lừng lẫy, đó là (1) kiến tạo một lập trường về chiến tranh, và (2) xây dựng mối tương quan tốt đẹp với dân tộc Do Thái. Hai công trình này gộp lại đã đánh dấu một thay đổi rất ý nghĩa trong lịch sử Giáo Hội, và đặt nền cho những đổi thay trong tương lai có khả năng vượt xa viễn kiến cũng như mơ uớc của chính ngài. Cả hai công trình chứng tỏ tài năng hoàn thành điều đã khởi sự trong triều đại của hai vị tiền nhiệm ngài là ĐGH Gioan XXIII và Phaolô VI.

Về công trình thứ nhất: năm 1965 CĐ Vaticanô công bố “Dignitatis Humanae” (Phẩm giá con người), một tuyên ngôn về tự do tôn giáo. Tính cách mạng của tuyên ngôn này nằm ở chỗ hoàn toàn chối bỏ việc sử dụng võ lực để bảo vệ chân lý. Nó lật ngược truyền thống sử dụng biện pháp chế tài bằng cưỡng chế đã thịnh hành từ thời Constantine và Thánh Augustinô. ĐGH Phaolô VI đã minh định ý nghĩa tuyên ngôn này bằng diễn từ đọc trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc: “Không còn chiến tranh nữa! Không bao giờ còn chiến tranh nữa!” Điều này hoàn toàn trái nghịch với lời ĐGH Urbanô II khi hô hào các đôi quân Thập Tự: “Chúa muốn thế.” ĐGH Gioan Phaolô II đã đặt việc loại trừ sử dụng võ lực như là trọng tâm chính trị của triều giáo hoàng ngài. Sự chống đối quyết liệt của ngài trước chủ nghĩa cộng sản Xô Viết đã được xây dựng trên bất bạo động, và sự ủng hộ nhiệt liệt đối với phơng trào phản kháng Ba Lan cũng đặt nền trên cam kết phi võ lực. Chính nhờ việc chống đối dân chủ đàng sau bức màn sắt mang tính hoà bình, mà Chủ Tịch Mikhail Gorbachev cũng đáp ứng lại trong hòa bình. Vai trò cực kỳ quan trọng của ĐGH trong sự đánh đổ chủ nghĩa cộng sản cũng được thành tựu nhờ tính cách phi võ lực. Không bao giờ còn chiến tranh nữa!

ĐGH lên án cuộc xâm lăng của Hoa Kỳ vào Panama tháng 12 năm 1989, chống đối cuộc chiến Vùng Vịnh năm 1991, cuộc không kích Serbia của khối Nato, phản kháng chiến dịch chống Afghanistan và cuộc chiến Iraq 2003, những cuộc chiến chống khủng bố mang đầy tính cách thập tự quân. Chống chiến tranh đã trở thành một thứ di sản của ĐGH cho dầu vẫn thường bị các chính quyền hiếu chiến phớt lờ hay giả bộ làm ngơ.

Về công trình thứ hai: Tuyên ngôn “Nostra Aetate” (Thời đại chúng ta) đã mạnh mẽ phi bác lời kết án “lũ giết Chúa” ám chỉ về dân Do Thái. Đây là ngọn nguồn của sự hiềm khích của Kitô giáo đối với dân Do Thái, một thứ truyền thống khiến cho Đức Quốc Xã khởi đầu cuộc tàn sát Do Thái trong lò hoả thiêu.

Ngay từ thiếu thời, Gioan Phaolô II, khi chứng kiến thảm cảnh hoả thiêu đã nắm được ý nghĩa triệt để này và áp dụng cho Giáo Hội. Truyện chữa vết thương và hàn gắn sự nứt rạn với Do Thái Giáo vì thế đã trở thành một dự án quan trọng hàng đầu của triều giáo hoàng ngài: bứt hết căn rễ bài-Do-Thái ra khỏi những tài liệu học tập, giảng dậy; thăm viếng các hội đường Do Thái; đem biến cố nạn nhân hỏa thiêu làm bài học luân lý; xác định quyền lợi của người Do Thái trên phần đất quê hương Israel, mà chính ngài thừa nhận vào năm 1994. Khi kính viếng Bức Tường Tây Ngạn tại Giêrusalem vào năm 2000, ngài đã đảo ngược việc Kitô giáo bài bác Đền Thờ Do Thái, dứt khoát loại bỏ ý tưởng cho rằng vì Chúa Kitô đã là “Đền thờ mới,” nên Do Thái Giáo phải nhường chỗ cho Kitô Giáo. Và qua đó, ĐGH xác nhận một nguyên tắc mới của Công Giáo về chủ thưyết tôn giáo đã nguyên, bao hàm ý hướng quan hệ với các tôn giáo khác nữa.

Trước thềm đệ tam thiên kỷ, ĐGH đã bầy tỏ lòng hối hận trước hai thứ tội ác lịch sử của Kitô giáo, đó là việc sử dụng võ lực nhằm bảo vệ chân lý, và truyền thống khinh thị dân tộc Do Thái. Nhưng vị Giáo Hoàng này không dừng lại ở niềm ân hận suông, ngài còn sắp đặt các cơ cấu mới về lòng tin và các việc thực hành, khẳng định hoà bình và thăng tiến lòng nhẫn nhục, và nhờ đó mà thay chuyển Giáo Hội Công Giáo mãi mãi.

II. Giáo Hoàng Gioan Phaolô II:

“Một con người duy nhất trở thành điểm qui chiếu luân lý cho toàn thế giới”

Đó là lời minh định của George Weigel, tác giả “Chứng Nhân Hi Vọng, Tiểu Sử ĐGH Gioan Phaolô II” khi trả lời phỏng vấn của đặc phái viên thông tấn xã Zenit về những công trình mà ĐGH đã thực hiện trong Giáo Hội nhưng lại gây âm vang lớn trên dòng thế sự. Ông còn thêm là ĐGH luôn nhắc nhở thế giới rằng “thế sự,” dù thưộc lãnh vực nào chăng nữa, cũng vẫn nằm trong tầm nhắm của luân lý. Quả vậy, ngay đến lãnh vực chính trị quốc tế cũng không là diễn đàn phi luân lý, bởi lẽ không có gì thưộc về con người mà thoát khỏi vòng cương tỏa của luân lý. Có thể điều này chưa được thế giới am hiểu và đón nhận, nhưng đây lại là điều ĐGH thường nhấn mạnh.

Bàn về các thành qủa khác, tiểu sử gia Giáo Hoàng đã nhắc đến sự sụp đổ của chủ nghĩa cộng sản Âu Châu, nhóm bùng lên một cuộc cách mạng của lương tâm dẫn đến trào lưu cách mạng phi võ lực vào năm 1989. Tiếp đến là việc ĐGH giảng hoà giữa Á Căn Đình và Chí Lợi trong cuộc tranh chấp “Đường Hầm Beagle” suýt đã trở thành ngòi nổ chiến tranh; rồi đến việc ngài dọn đường lối dân chủ tại Châu Mỹ Latinh cũng như ủng hộ những chuyển biến dân chủ tại Phi Luật Tân và Nam Hàn.

Cũng phải nói đến việc ngài lên tiếng bênh vực tính phổ quát của quyền con người trong diễn văn đọc trước đại hội đồng Liên Hiệp Quốc năm 1995, giữa thời kỳ mà ý tưởng về quyền làm người bị chối bỏ hoặc nhận được những lời châm chọc từ các nhóm hậu-duy-tân, Hồi giáo, cộng sản, và chính quyền vùng Đông Á.

Thư luân lưu “Centesimus Annus” (một trăm năm sau) viết vào năm 1991 đã thổi một luồng sinh khí mới vào học thưyết xã hội Công Giáo, nhất là những vấn đề liên quan đến kinh tế. Khi được hỏi về “con đường thứ ba,” không xã hội, không tư bản, tiểu sử gia Giáo Hoàng cho rằng lá thư luân lưu này thừa nhận một nền kinh tế qui vào thị trường, được điều hướng thích đáng bởi luật lệ công bằng chính là con đường thứ ba này, cho dù chưa chắc có được am hiểu và chấp nhận chăng.

“Thần Học Xác Thân,” theo George Weigel, thì đúng là một công trình thần học sáng tạo độc đáo của ĐGH, cho dù còn rất nhiều chất liệu thần học phơng phú khác cần được nghiền ngẫm vì còn tiềm ẩn bên trong các thư luân lưu, tông thư, tông huấn, diễn từ. Đó là chưa kể đến nền “thần học về lòng thương xót Chúa,” một thứ kho tàng cần được khai quật. Cuối cùng khi kể đến nền “thần học về Thánh Mẫu” trong đó ĐGH trưng dẫn diện mạo Mẹ Maria trong tư cách “môn đệ“ mà ngài coi là một thực tại căn bản của Giáo Hội, là thành tố có khi còn chặt chẽ xác đáng hơn cả “diện mạo Phêrô” vốn là thành tố đã được thừa nhận.

Về Giáo Hội học, tiểu sử gia cho rằng ĐGH đã tái “quân bình hoá” Giáo Hội trong giai đoạn mà các hội đồng Giám Mục cấp quốc gia đang có cớ trở thành những “thượng hội đồng Giám Mục” có tư cách độc lập trên mô hình chính thống. Tất nhiên, điều này hoàn toàn trái nghịch với những cáo buộc chống lại ngài ròng rã suốt hơn hai mươi năm qua.

Chắc hẳn, ĐGH cũng có để lại những công trình dở dang, mà một trong số này là sáng kiến đại kết, nhất là với Chính Thống Giáo. Năm 1978, khi lên ngôi GH, ngài cứ đinh ninh rằng sự rạn nứt bắt đầu từ đệ nhị niên kỷ giữa Rôma và Giáo Hội Đông Phương rồi sẽ được hàn gắn khi bước vào thềm đệ tam thiên kỷ. Rất tiếc điều đó chưa xẩy ra. Weigel giải thích rằng có thể bởi vì “không hiệp thông với Giám Mục Rôma” đã trở thành một phần căn tính của phần lớn tín đồ Chính Thống Giáo. Dù sao, đây cũng là một sự kiện đáng buồn. Hay là ĐGH đã đi quá xa trước lịch sử, khi thời điểm lịch sử ấy chưa chín muồi?

Cũng theo tác giả tiểu sử GH, thì người ta sẽ mãi mãi ngưỡng mộ ngài như một con người của văn hóa, của thiện cảm ấm nồng, của lòng đại đảm, liêm chính và cảm thông. ĐGH qủa là “chứng nhân Kitô hữu vĩ đại nhất thế kỷ.” Tại sao? Bởi vì tất cả mọi thành tựu của ngài đều xuất phát tự sự kiện tối cao duy nhất này: Gioan Phaolô II là người đã tin tưởng, đến tận từng đường gân thớ thịt của mình, rằng Đức Giêsu Kitô là câu trả lời cho câu hỏi là chính mỗi cuộc đời con người.

Riêng cá nhân tiểu sử gia GH, điều đánh động ông nhiều nhất nơi ĐGH chính là năng động lực phi thường, cái viễn kiến lúc nào cũng như vươn tới, vươn xa mãi, như thầm hỏi: “Phải làm gì đây, lúc này?” Tuy thế, đây không phải là thứ năng động lực nông nổi nhất thời, mà là một sức mạnh sâu kín, âm thầm, dai dẳng và bền bỉ của một đời sống nội tâm phơng phú khác thường và một đời sống cầu nguyện liên lỉ.


Nguyễn Kim Ngân - Vietcatholic.net
Comments: Post a Comment

<< Trở Về Trang Chính - Trang Đầu
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?