Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, April 12, 2005

Một cách đấu tranh kỳ lạ của Đức Giáo Hoàng John Paul II

Một cách đấu tranh kỳ lạ của Đức Giáo Hoàng John Paul II

VietCatholic News (08/04/2005) - Sau khi Đức Giáo Hoàng John Paul II qua đời, nhiều người ở khắp nơi trên thế giới, từ những kẻ nhỏ bé nhất đến các vị lãnh đạo của các cường quốc đều đã bày tỏ cảm tình yêu mến và ca ngợi về những gì ngài đã đem lại cho thế giới trong thế kỷ qua. Các cơ quan truyền thông đã dùng khá nhiều thì giờ và gíấy mực để nói về Đức Giáo Hoàng, trong đó có bàn đến việc Đức Giáo Hoàng đã góp phần vào việc làm sụp đổ các chế độ cộng sản ở Đông Âu. Sự thật như thế nào?

Cho đến nay, các sử liệu liên quan đến vấn đề này vẫn chưa được công bố, nên chúng ta khó có thể bàn đến một cách chính xác được. Chúng ta chỉ biết Đức Giáo Hoàng đã đến thăm hai nước cộng sản là Ba Lan và Cuba. Nhân khi thế giời đang tiển đưa ngài, chúng ta thử tìm hiểu xem Đức Giáo Hoàng đã làm gì ở hai nước này và ảnh hưởng của ngài ở đó ra sao. Tuy nhiên, trước khi đề cập đến hai biến cố đó, chúng tôi xin nói qua về cách nhìn của Đức Giáo Hoàng đối với chủ nghĩa cộng sản.

MỘT CÁI NHÌN VỀ CỘNG SẢN

Đức Giáo Hoàng John Paul II có tên thật là Karol Josef Wojtyla, sinh ngày 18.5.1920 tại Wadowice, Ba Lan. Khi còn trẻ ngài rất năng động trong mọi lãnh vực, từ tri thức, hoạt động xã hội đến thể thao và kịch nghệ. Khi ngài đang học đại chủng viện, Ban Lan rơi vào tay Đức Quốc Xã nên ngài phải học thần học chui và bí mật chịu chức linh mục ngày 1.11.1946. Sau đó ngài qua Ý học và đã đậu bằng tiến sĩ thần học tại Roma năm 1948.

Từ năm 1948 đến 1951, cha Karol Wojtyla phụ trách giáo xứ Niegowic. Đây là một làng quê hoang sơ và hẻo lánh ở vùng nông thôn Galicia, cách thủ đô Krakow khoảng 30 dặm, với khoảng 200 cư dân. Trong cái làng quê nhỏ bé đó, Cộng Sản cũng đã thành lập tổ chức Thanh Niên Cộng Sản và thuyết phục các thanh niên trong tổ chức theo dỏi linh mục Wojtyla. Cậu Stanislaw Wyporeck, người thư ký đánh máy của linh mục, cũng được yêu cầu báo cáo cho họ những điều linh mục đã làm hàng ngày, nhưng cậu từ chối. Một hôm, cảnh sát đến bắt cậu và đưa đến một làng gần đó đánh đập và buộc cậu thú nhận đã tham gia một tổ chức bí mật chống lại chế độ. Sáng hôm sau, Stanislaw trở về đã run rẩy và sợ hải kể lại mọi chuyện cho Linh mục Wojtyla nghe. Ngài đã an ủi cậu: “Stanislaw, đừng lo, họ sẽ tự kết liễu bản thân họ thôi.” Sau đó, ngài đã nói với những người khác trong nhóm: “Chủ nghĩa xã hội không đi ngược lại những lời răn dạy của Giáo Hội, thế nhưng phương pháp của những người cộng sản thì chống lại Giáo Hội. Những người cộng sản áp đặt những quan niệm thực dụng lên nhân dân, họ tra tấn đất nước này.”

Ít năm sau Linh mục Wojtyla về làm cha xứ ở Krakow và cậu Stanislaw đã đến thăm ngài. Thấy trên giá sách của ngài có các tác phẩm của Marx, Lénin và Stalin, cậu đã hỏi: “Cha đã chuyển sang tư tưởng khác rồi sao?” Ngài trả lời: “Stanislaw! Nếu con muốn hiểu kẻ thù, con phải biết họ viết gì.” Ông khuyên cậu nói thật với cảnh sát những gì mà giới trẻ trong giáo xứ đang làm. Stanislaw kể lại: “Ông nói: Những điều xầu xa phải được khắc phục bởi những điều tốt đẹp. Chúng ta cần phải tạo ra một tấm gương tốt. Chúng ta cần thể hiện sự khiêm nhường của mình.” Đây là một cách chống cộng mà Linh mục Wojtyla muốn lưu ý cậu.

Trong cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng”, xuất bản năm 1995, Đức Giáo Hoàng John Paul II đã nói về chủ nghĩa cộng sản như sau:

“Điều mà chúng ta gọi là chủ nghĩa cộng sản thì thực ra đã có lịch sử rồi. Đó là lịch sử phản kháng khi đương đầu với bất công mà tôi đã nhắc đến trong thông điệp Laborem Exercens - Sự phẫn nộ chính đáng của giới thợ thuyền, tiếp theo đã biến thành một ý thức hệ. Những sự phản kháng này cũng đã trở thành một phần trong các giáo huấn của Giáo Hội. Chúng ta cần nhắc lại thông điệp Rerum Novarum từ cuối thế kỷ trước. Chúng ta cần nhắc thêm rằng: giáo huấn này không chỉ hạn chế trong phản kháng, nhưng còn phóng ra một tầm nhìn vào tương lai. Thực tế, chính Đức Giáo Hoàng Leo XIII, theo một nghĩa nào đó, ngài đã tiên đoán chế độ cộng sản sụp đổ rồi, một sự sụp đổ mà nhân loại, nhất là Âu Châu, phải trả một giá quá đắt, bởi vì phương thuốc chữa trị, theo ngài viết từ năm 1891 trong bức thông điệp này, có thể chứng tỏ còn độc hại hơn là chính con bệnh. Đức Giáo Hoàng (Leo XIII) đã nói điều này với tất cả thái độ nghiêm chỉnh và uy quyền của bậc Thầy trong Giáo Hội.”

Trong một đoạn khác, ngài đã viết:

“Vì thế, thật quá giản lược hóa khi cho rằng Thiên Chúa Quan Phòng đã trực tiếp gây ra cuộc sụp đổ chế độ cộng sản này. Theo một nghĩa nào đó, chủ thuyết cộng sản như là một hệ thống đã tự nó sụp đổ. Chế độ đó sụp đổ chính là hậu quả của những lầm lạc và lạm dụng vô độ của chủ nghĩa. Chủ nghĩa cộng sản chứng tỏ là “một phương thuốc còn nguy hiểm hơn chính con bệnh.” Chủ thuyết này đã không thành công khi muốn đem lại một cuộc đổi mới xã hội thật sự, nhưng đã trở thành một mối đe dọa mạnh mẽ và một thách đố kinh hoàng cho toàn thế giới. Chủ nghĩa cộng sản sụp đổ vì những suy yếu nội tại của chính nó.”

TRƯỜNG HỢP CỦA BALAN

Ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng đối với sự sụp đổ của chế độ cộng sản Ba Lan đã được diễn tả khá sinh động trong cuốn “His Holiness John Paul II and The Hidden History of Our Time” (Đức Giáo Hoàng John Paul II và Lịch Sử Bí Ẩn của Thời Đại Chúng Ta) của Carl Bernstein và Marco Politi. Đây là cuốn sách đã làm cho Đảng Cộng Sản Việt Nam khiếp sợ, không dám để Đức Giáo Hoàng John Paul II đến thăm Việt Nam.

Đức Giáo Hoàng đã đến thăm Balan lần thứ hai vào năm 1983, khi phong trào Công Đoàn Đoàn Kết của Lech Walesa đang dấy lên khắp nơi và chính quyền Cộng Sản Ba Lan đã phải ban hành lệnh thiết quân luật và ra lệnh giải tán Công Đoàn để ngăn ngừa một cuộc nổi dậy. Trong bối cảnh đó, chính quyền cộng sản Ba Lan và Tòa Thánh Vatican đã đạt được một thỏa thuận căn bản để Đức Giáo Hoàng có thể đến thăm Ba Lan: Chuyến viếng thăm này chỉ dành riêng cho vấn đề tôn giáo mà thôi. Nhưng rồi sau đó mọi sự đã thay đổi.

Đức Giáo Hoàng đã đến Ba Lan ngày 16.6.1983. Sau khi quỳ xuống hôn đất quê hương, ngài đã lên kêu gọi những người đang bị bắt bớ ở Ba Lan:

“Cha kêu gọi những người bị đày đọa hãy đến đây với cha. Cha kêu gọi lời này thay lời Chúa Jesus: Cha đã bị ốm và các con hãy đến thăm cha. Cha bị giam cầm, các con hãy đến với cha. Bản thân cha không thể tới thăm các con chiên đang bị giam cầm (đám đông xúc động), đến thăm tất cả các con chiên đang bị đày đọa. Nhưng cha kêu gọi họ hãy đến với cha trong tinh thần giúp đỡ cha, như họ vẫn luôn làm.”

Sau đó, ngài đã hội kiến với Tướng Jaruzelsky, Thủ Tướng Ba Lan, và Giáo sư Jablonski, Chủ Tịch Nước Ban Lan, tại điện Belweder. Thủ Tướng Jaruzelsky vốn là người công giáo và chính ông cũng là người đã ban hành thiết quân luật. Ông kể lại rằng Đức Giáo Hoàng như là một nhân vật huyền thoại và mô tả buổi gặp gỡ như sau: “Đó là một khoảng khắc rất xúc động. Tôi cảm thấy đó là một khoảng khắc vĩ đại, nhưng tôi nhận thấy rằng Đức Giáo Hoàng khá lạnh lùng đồi với tôi. Ông mĩm cười với Giáo sư Jablonski (Chủ Tịch Nước)...”

Tướng Jaruzelski nhớ lại: “Đức Giáo Hoàng đã không đưa ra một tới hậu thư. Ngài đã cố gắng thuyết phục. Ngài nói về giá trị của con người. Ngài nói rằng nhà nước phải quan tâm đến từng cá nhân con người, rằng đối thoại luôn luôn phải cần đến, và rằng tất cả các Công Đoàn có quyền tồn tại.” Ngài không tranh luận quyết liệt, mặc dầu ngay từ đầu hai bên đã có những bất đồng nghiêm trọng. Tướng Jaruzelsk thưa với Đức Giáo Hoàng: “Xin ngài dùng ảnh hưởng của ngài giúp chúng tôi cô lập phái quá khích trong Công Đoàn Đoàn Kết, giúp chúng tôi bỏ lệnh cấm vận của phương Tây, nhất là Mỹ.” Đức Giáo Hoàng trả lời: “Tôi quan tâm đến việc đạt tới một tình trạng bình thường càng sớm càng tốt”.

Ngài tới thành phố nào, hàng triệu người đã tụ tập chào đón ngài. Khi ngài đến Czestochowa, hơn một triệu người đứng đợi ngài. Cũng như đa số người Việt, người công giáo Balan muốn Đức Giáo Hoàng lên tiếng chống chế độ cộng sản Ba Lan một cách nào đó để đưa chế độ này đến chỗ sụp đổ. Họ muốn ngài nói tiếng “Solidarity” biểu tượng cho phong trào Công Đoàn Đoàn Kết. Các ký giả Tây phương cũng vậy. Nhưng ngài đã không nói theo cách họ trông đợi mà giảng về một đề tài phức tạp hơn: “Hãy phân biệt rõ cái tốt và cái xấu”. Nhiều nhà phân tích đã coi đây là một bài thuyết giảng vĩ đại nhất trong cuộc đời của ngài. Ngài nói: “Tùy vào các con mà có thể ngăn được sự suy đồi luân lý hay không, mà nói lên sự đoàn kết giữa con người hay không.”

Buổi tối, hàng chục ngàn người đã diễn hành từ nhà thờ Warszawa đến trụ sở Đảng Cộng Sản Ba Lan. Khi đi ngang qua tòa nhà của Trung Ương Đảng Cộng Sản Balan, đoàn thanh niên đã hô to: “Solidarity! Solidarity! Walesa! Dân Chủ!.” Khi họ tập trung lại, Đức Giáo Hoàng nói:

“Con người được kêu gọi để chiến thắng chính mình. Chính các vị thánh và các chân phước sẽ chỉ lối cho chúng con đường chiến thắng - sự chiến thắng mà Thiên Chúa đã đạt được trong lịch sử nhân loại.” Sự chiến thắng ấy đòi hỏi “lối sống trong sự thật, nghĩa là biết yêu thương người lân cận, nghĩa là biết đoàn kết giữa con người, nghĩa là trở về với lương tâm, gọi thẳng tên sự lành và sự dữ chứ không mập mờ..., nghĩa là phát triển nơi sự lành và tìm cách sửa sai sự dữ từ chính nơi ta.”

Khi đến tu viện Black Madona ở Czestochova, Đức Giáo Hoàng đã nguyện cầu:

“Thiên Chúa đã gởi Mẹ đến với chúng con để bảo vệ dân tộc Ba Lan, xin Mẹ hãy chấp nhận lời khẩn cầu này của những người thanh niên Ba Lan, của Giáo Hoàng người Ba Lan và giúp chúng con giữ vững được ý chí và hy vọng.”

Sau đó, Đức Giáo Hoàng nói với giới trẻ Ban Lan:

“Các con đến với Đức Mẹ mang theo trái tim thương tích bởi những sầu muộn, có khi cả những thù hận. Sự hiện diện của các con biểu lộ được một sức mạnh chứng tá khiến cả thế giới phải ngỡ ngàng khi thấy người công dân Balan dùng chính bản thân làm phương tiện tranh đấu, với Phúc Âm trong tay, với lời kinh trên môi. Những hình ảnh ấy vào năm 1980 đã làm cho trái tim và lương tâm thế giới vô cùng xúc động.”

Sau đó, trước sự chứng kiến của khoảng một triệu người, Đức Giáo Hoàng dâng lên Đức Mẹ tấm đai thắt lưng có một lỗ đạn do Ali Agca bắn vào ngài tại Công Trường Thánh Phêrô. Cả một khối người chăm chú, ngất ngất. Họ hô lên: “Xin ở lại với chúng con! Xin ở lại với chúng con!”

Với những biến cố nói trên, nhiều người tin rằng chính Đức Giáo Hoàng đã khơi dậy ngọn lửa đấu tranh và là niềm tin của dân Ba Lan. Carl Bernstein và Marco Politi đã có những nhận định về tình trạng đặc biệt của Ba Lan và về vai trò của Đức Giáo Hoàng John Paul II đối và những biến đổi của xã hội Ba Lan như sau:

“Trong cả một nghìn năm, Giáo Hội này vẫn đã là hiện thân của dân tộc Ba Lan bất chấp những cuộc chiến tranh, chết chốc, chia cắt, thanh trừng và chinh phục. Các nhà lãnh đạo đầy tức giận trong Bộ Chính Trị ở Mạc Tư Khoa không thể thuần túy cho rằng Giáo Hội Thiên Chúa ở Ba Lan chỉ đơn thuần là một bánh răng trong bộ máy nhà nước, gióng như Giáo Hội Chính Thống ở Nga. Ở Nga, Giáo Hội được chính phủ chấp nhận một cách miễn cưởng và hoàn toàn khuất phục trước quyền lực của Đảng. Ở Ba Lan, đó là cả một thế lực. Chủ Tịch Nước Ba Lan là Jablonski đã bắt đầu bằng việc trích dẫn lời các đấng tiền nhiệm của Woytila như John XXIII và Paul VI, và bày tỏ hy vọng rằng Đức Giáo Hoàng mới sẽ tiếp tục chính sách “cùng tồn tại giữa các dân tộc” của họ. Tổng Giám Mục Wyszynki, người đã có ba năm bị quản thúc tại gia thời Stalin, đã đọc đáp từ. Ngài báo hiệu một sự thay đổi quyền lực tinh tế đang diễn ra vào lúc đó, dầu rằng ngài đã dấu nó trong ngôn từ của một giáo sĩ: “Thưa Đức Thánh Cha, ngài có trong tay mình những trái tim vui sướng của chúng con, và ở dưới chân ngài, linh hồn cao quý của nước Ba Lan luôn luôn ngoan đạo.”

Carl Bernstein và Marco Politi nói rằng “Chiến thắng phụ thuộc nhân tố bên trong. Ý chí chiến thắng được hung đúc từ những đau thương của dân tộc họ, con đường tử đạo là có thể có.”

Có người cho rằng các chế độ cộng sản Đông Âu đã sụp đổ là do những mục nát từ bên trong. Nhưng trong thập niên 1980s hai chế độ cộng sản Việt Nam và Cuba còn mục nát hơn các chế độ cộng sản Đông Âu. Hơn nữa, CSVN đã sống bám vào các chề độ cộng sản Đông Âu và đã trở thành một trong những nước nghèo nhất thế giới. Tại sao hai chế độ này đã không sụp đổ?

Tờ “Inside the Vatican” (Bên trong Vatican) số ra ngày 4.4.2005, cho biết trong một cuộc phỏng vấn, Đức Hồng Y Joachim Meisner, Tổng Giám Mục Cologne ở Đức, người đã từng sống dưới thời cộng sản Đông Đức, cho biết người dân Đông Đức ghi ơn Đức Thánh Cha Gioan Phaolô II vì ngài đã giúp làm sụp đổ chế độ cộng sản. Đức Hồng Y nói: ”Đức Thánh Cha đã rút chiếc thảm dưới chân những người cộng sản. Chỉ có ai biết Thiên Chúa mới biết rõ con người.”

Về phần mình, Đức Hồng Y nói: “Tôi đã phạm hai sai lầm về tri thức. Thứ nhất tôi đã nghĩ rằng cộng sản cả hàng trăm năm nữa mới sụp đổ nổi. Thứ hai là sau khi cộng sản sụp đổ thì chuyện gì cũng giải quyết xong. Những điều này đã được minh chứng là sai.”

Hôm 3.4.2005, ông Mikhail Gorbachev, người đã từng tuyên bố rằng sự sụp đổ của Bức Màn Sắt là không thể được nếu không có Đức Giáo Hoàng Gioan Phaolô II, nay vừa tiết lộ cho hảng thông tấn CNN biết những chuyện đã xẩy ra trong cuộc gặp gỡ lịch sử lần đầu tiên với Đức Thánh Cha vào tháng 12 năm 1989. Ông nói:“Chúng tôi đã có một buổi nói chuyện rất thú vị, mặc dù có lẽ rất cảm động. Ngài bảo thẳng với tôi là ngài ghét cay ghét đắng cái chủ nghĩa cộng sản”.

Tuy nhiên, ông Gorbachev đã không tỏ ra phật ý vì câu nói thẳng thừng đó. Ông giải thích: “Ngài cũng mạnh mẽ phê phán chủ nghĩa tư bản rừng rú. Ngài nói với tôi: ‘Tôi không phục vụ chính trị đảng phái, tôi phục vụ Thiên Chúa.”

Để khích lệ ông trong tiến trình đổi mới tại Liên Xô, Đức Giáo Hoàng nói: “Tôi theo đuổi cùng những điều mà ngài đang cố đạt được với perestroika.”

TRƯỜNG HỢP CỦA CUBA

Năm 1998, Đức Giáo Hoàng đã đến thăm Cuba, một nước cộng sản thứ hai, nhưng với phong cách hoàn toàn khác hẵn phong cách khi đến Ba Lan trước đây, một phần vì tình hình Cuba hoàn toàn khác với tình hình Ba Lan, phần khác, lúc đó các chế độ cộng sản ở Đông Âu và Liên sô đã sụp đổ hơn 8 năm, nên một giải pháp cho Cuba chắc chắn không thể gióng như ở Ba Lan.

Cuba là một một hòn đảo ở Tây bán cầu, có diện tích 114.524 cây số vuông. Dân số Cuba hiện nay khoảng 11.200.000 người, trong đó người sắc tộc mulatto chiếm 51%, người da trắng 37%, người da đen 11% và người Tàu 1%.

Trước khi có cuộc cách mạng do Fidel Castro thực hiện, Giáo Hội Công Giáo cũng như các giáo hội Tin Lành không đóng vai trò quan trọng nào trong xã hội Cuba. Giáo Hội Công Giáo gồm đa số là người ngoại quốc, sống ở thành thị và thuộc giai cấp thượng lưu hay trung lưu nên không đi sâu vào xã hội Cuba. Mặc dầu đa số người Cuba đều có chịu phép rửa tội, nhưng chỉ khoảng 10% sống đạo đúng danh nghĩa người công giáo. Các giáo hội Tin Lành mới đến Cuba trong một thời gian ngắn, nên chưa có hoạt động nào đáng kể.

Trước ngày Fidel Castro lên cầm quyền, số người theo Thiên Chúa Giáo tại Cuba trên danh nghĩa lên đến 85%. Qua 37 năm chịu sự đàn áp tinh vi và dã man, số người theo Thiên Chúa Giáo đã sụt xuống chỉ còn khoảng 47%, nhưng số tín đồ thật sự sống đạo chỉ khoảng 500.000 người.

Mặc dầu có sự lủng củng với Giáo Hội Công Giáo, Fidel Castro vẫn duy trì quan hệ ngoại giao với Tòa Thánh Vatican từ 1962 đến nay, tuy sự quan hệ này chỉ có giới hạn. Ngày 19.11.1996, Fidel Castro đã ghé Roma thăm Đức Giáo Hoàng và chính thức mời Đức Giáo Hoàng đến thăm Cuba và Đức Giáo Hoàng đã nhận lời.

1.- Chuyện quỷ sứ và con người: Vào ngày 17.1.1998, trong một một cuộc nói chuyện dài ba tiếng đồng hồ trên truyền hình, Fidel Castro đã nói về cuộc viếng thăm của Đức Giáo Hoàng như sau: “Cuộc gặp gỡ của chúng tôi không phải là cuộc gặp gỡ giữa một thiên thần và một quỉ sứ, nhưng là một cuộc gặp gỡ giữa hai thiên thần của dân nghèo, đúng ra là một cuộc gặp gỡ giữa một thiên thần và một quỉ sứ của dân nghèo”!

Đức Giáo Hoàng đã đến Cuba vào ngày 21.1.1998. Trên máy bay, các ký giả đã phỏng vấn ngài trong suốt 20 phút. Khi được hỏi ngài đến nói chuyện với ông Castro như là một Giáo Hoàng với một Chủ Tịch Nước Cộng Sản hay như một thiên thần với quỷ, Đức Giáo Hoàng đáp: “Chúng tôi không phải là thiên thần. Chúng tôi là hai con người nói chuyện với nhau”. Một phóng viên lại hỏi: “Ngài có chống cộng không?”. Đức Giáo Hoàng đáp: “Tôi không đồng ý với chủ nghĩa Marxist, nhưng tôi cũng không đồng ý với chủ nghĩa tư bản tự do man rợ (liberalisme sauvage). Tôi chủ trương văn hóa của tình thương, của sự sống”. Một phóng viên nữa xin ngài cho biết nguyện vọng của ngài khi đến thăm Cuba, ngài trả lời: “Tôi kêu gọi nước Cuba hãy mở cửa cho thế giới và thế giới hãy mở cửa cho nước Cuba”.

Hai vấn đề được Đức Giáo Hoàng quan tâm khi đang trên đường đến Cuba là vấn đề nhân quyền và vấn đề bải bỏ cấm vận cho Cuba. Về vấn đề nhân quyền, ngài nói rằng ngài “hy vọng có sự tiến bộ về việc tôn trọng giá trị con người”. Ngài nói thêm: “Nhân quyền là nền tảng văn minh của nhân loại, cũng như của một xã hội có văn hóa. Tôi muốn nghe sự thật từ cửa miệng của ông Castro. Sự thật của một con người, của một chủ tịch nước, cũng như của một lãnh tụ cách mạng mà ông thường tự nhận. Tôi muốn nghe ông nói thật về đất nước Cuba, về giáo hội và về nhà nước. Tôi cũng sẽ nói với ông Castro về cách mạng, nhưng là cuộc cách mạng của Chúa”. Về vần đề cấm vận, Đức Giáo Hoàng tin rằng Hoa Kỳ sẽ phải thay đổi đường lối chính trị đối với Cuba.

2.- Con đường dẫn đến thế giới mới: Sáng thứ Sáu 23.1.1998, khi cử hành Thánh lễ tại quảng trường Ignacio Agramonte của thành phố Camaguey, Đức Giáo Hoàng đã nói với giới trẻ:

“Hởi các bạn trẻ, tin hay không tin, xin hãy đón nhận lời cha mời gọi hãy sống đạo đức. Điều nầy có nghĩa là chúng con cần phải sống dũng mạnh bên trong tâm hồn, cao thượng, tràn đầy những tâm tình tốt đẹp, can đảm trong sự thật, gan lì trong tự do, liên lỉ trong trách nhiệm, quảng đại trong tình yêu, không gì có thể làm rung chuyển niềm hy vọng. Hạnh phúc có được, là do bởi biết sống hy sinh...” Ngài nhấn mạnh: “Hãy nhớ rằng con người và việc kính trọng con người là con đường dẫn đến thế giới mới.”

3.- Vai trò của Giáo Hội Công Giáo: Ngày 24.1.1998, Đức Giáo Hoàng đến thăm và cử hành thánh lễ tại thành phố Santiago de Cuba, nơi vào ngày 1.1.1959 Fidel Castro đã tuyên bố cách mạng thành công. Đức Giáo Hoàng đã nói về vai trò của Giáo Hội Công Giáo đối với các nước trên thế giới cũng như nói với Cuba như sau:

“Giáo Hội, hiện diện giữa lòng xã hội, không nhằm đi tìm bất cứ hình thức quyền hành chính trị nào khi thực hiện sứ mạng của mình; Giáo Hội chỉ muốn là hạt giống phát sinh những thiện ích của mọi người bằng sự hiện diện của mình trong các cơ cấu xã hội. Cái mà Giáo Hội nhắm đến trước hết là ngôi vị con người và cộng đồng xã hội, trong đó có Giáo Hội hiện diện, vừa biết rõ rằng con đường đầu tiên của mình là con người cụ thể với những nhu cầu và những khát vọng riêng. Tất cả nhũng gì Giáo Hội đòi cho mình, thì Giáo Hội đều đem nó ra phục vụ cho con người và xã hội...”

“Giáo Hội được mời gọi để làm chứng cho Chúa Kitô bằng cách đưa ra những lập trường can đảm và có tính cách tiên tri trước sự mục nát của quyền lực chính trị và kinh tế; bằng cách không tìm sự vinh quang hay sự giàu có về vật chất cho Giáo Hội; bằng cách xử dụng các nguồn lợi của mình để phục vụ những người nghèo nhất trong những người nghèo và bằng sự đơn sơ trong cuộc sống của Chúa Kitô” (Redemtoris Missio, 43).

4.- Lên án cả Cộng Sản lẫn Tư Bản: Chúa Nhật 25.1.1998, ngày viếng thăm cuối cùng, Đức Giáo Hoàng đã cử hành thánh lễ tại quảng trường cách mạng Jose Marti với sự hiện diện của Fidel Castro. Trong bài giảng ngài đã lên án cả chế độ Cộng Sản lẫn chế độ Tư Bản. Về chế độ cộng sản, Đức Giáo Hoàng nói:

“Vài hệ thống ý thức hệ và kinh tế đã chủ trương rút gọn tôn giáo vào trong lãnh vực thuần túy cá nhân, và tẩy bỏ khỏi tôn giáo mọi tác động hay chiều kích có tính cách xã hội. Như thế, chúng ta cần nhắc lại cho rõ rằng một quốc gia tân tiến không thể nào biến chủ thuyết vô thần hay tôn giáo trở thành như là một trong những dụng cụ chính trị. (Dân chúng lại vỗ tay hoan hô thật lâu). Tránh mọi hình thức cuồng tín hay trần tục hóa tột độ, Nhà Nước phải cổ võ một bầu khí xã hội an bình thanh thản và một nền luật pháp tương xứng, có thể cho phép mỗi người dân cũng như mỗi cộng đoàn tôn giáo sống tự do đức tin của mình, và diễn tả đức tin đó trong những lãnh vực khác khau của cuộc sống công cộng, và có thể xử dụng những phương tiện và khoảng rộng cần có, để cống hiến cho sinh hoạt của đất nước những tài năng thiêng liêng, luân lý và dân sự”. (Dân chúng nồng nhiệt vỗ tay).

Sau đó, ngài lên án chủ nghĩa tư bản:

“Đàng khác, tại nhiều nơi, một hình thức tư bản tân tự do đang được phát triển, đã nhận con người xuống thấp, vừa đặt sự phát triển các dân tộc tùy thuộc vào những áp lực mù quáng của thị trường, vừa dựa vào những trung tâm quyền lực để đem những gánh nặng không thể chịu được đè nặng trên những dân tộc kém may mắn hơn. Vì thế đôi khi đã xảy ra trường hợp người ta áp đặt trên những quốc gia, như là điều kiện để nhận thêm những trợ giúp mới, những chương trình kinh tế không thể chịu được. Như thế, nguời ta phải chứng kiến, trong cộng đồng các quốc gia, sự làm giàu vô độ của một thiểu số đã làm cho nhiều quốc gia khác càng ngày càng nghèo thêm, đến độ những kẻ giàu thì luôn luôn giàu thêm, và những kẻ nghèo thì luôn luôn bị nghèo hơn.”

5.- Ước muốn của hai bên: Nghe bài diễn văn chào mừng Đức Giáo Hoàng mà Fidel Castro đã đọc tại phi trường La Havana ngày 21.1.1998, chúng ta cũng có thể biết được Fidel Castro muốn gì. Thứ nhất, Fidel Castro muốn làm hòa với Giáo Hội Công Giáo sau 39 năm đối nghịch. Ông tin rằng Giáo Hội này đang đóng một vai trò quan trọng trên đất nước ông cũng như trên thế giới. Ông hy vọng sự hợp tác của Giáo Hội tại Cuba, sự yểm trợ của các Giáo Hội Công Giáo khác trên thế giới và sự yểm trợ của Vatican sẽ giúp Cuba phục hồi lại. Thứ hai, ông muốn nhờ Đức Giáo Hoàng làm trung gian để hòa giải với thế giới bên ngoài, đưa thế giới đến với Cuba và đưa Cuba đến với thế giới. Ông hiểu rằng vai trò của chủ nghĩa cộng sản đã cáo chung, ông phải từ bỏ nó, nhưng phải từ bỏ cách nào cho êm đẹp. Ông tin rằng Đức Giáo Hoàng sẽ giúp ông được chuyện đó.

Với những gì mà Đức Giáo Hoàng đã nói ra, chúng ta thấy Đức Giáo Hoàng muốn nhân cơ hội này, phục hồi lại nền đạo lý Thiên Chúa Giáo ở Cuba và xác định với Fidel Castro cũng như tất cả các chính phủ trên thế giới rằng Giáo Hội không bao giờ tìm kiếm quyền bính chính trị. Giáo Hội chỉ muốn có sự hiện diện để phục vụ xã hội và làm cho xã hội ngày càng trở nên tốt đẹp hơn. Ngài nói: “Đừng lo sợ; hãy khai mở một nền giáo dục cùng với những giá trị cao quý của Tin Mừng Đức Giêsu Kitô, một Tin Mừng mà sẽ không bao giờ đem lại bất cứ một nguy hại nào cho xã hội”.

Về ảnh hưởng của Đức Giáo Hoàng trong cuộc viếng thăm Cuba, cựu Tổng Thống Liên Sô Gorbachev nói rằng người ta không nên gán cho Đức Giáo Hoàng loại công trạng về chính trị tức thời. Những công trạng như vậy, trái lại không đề cao hình ảnh của ngài, mà còn giảm bớt. Theo ông, Đức Giáo Hoàng là một nhà nhân bản, hiểu sâu xa những thảm trạng của chế độ cộng sản, hiểu rõ những lý do của sự thoái hóa chủ nghĩa này. Nhưng ngài cũng là con người hiểu rất nhiều thực tại của một thứ chế độ tư bản kia, hiểu tính cách tàn bạo và sự trống rỗng của nó. Thuyết duy vật thực tiễn của chủ nghĩa tư bản thực ra không tốt lành gì hơn thuyết duy vật duy lý của chủ nghĩa cộng sản. Ông nói rằng ngài là một người bênh vực các quyền của cá nhân, các quyền của sự sống con người. Ngài muốn rằng trên thế giới này ít người nghèo khổ hơn, ít người đói rách hơn, ít bệnh tật hơn, và ít những bất công hơn.

LỰC BẤT TÒNG TÂM

Carl Bernstein và Marco Politi nói rằng cuộc đấu tranh cuối cùng của Đức Giáo Hoàng là giải phóng Thiên Chúa Giáo Trung Quốc khỏi những xiềng xích của chề độ cộng sản. Ngài nói: “Hàng triệu tín đồ không thể bị áp bức mãi, bị đặt dưới sự ngờ vực và chia rẽ.”

Nhưng không phải chỉ chế độ cộng sản mới là vấn đề quan tâm của Đức Giáo Hoàng và Giáo Hội Công Giáo. Có những chủ trương khác có khi còn nguy hiểm hơn cả chế độ cộng sản như chủ trương tục hóa và bệnh sợ người Thiên Chúa Giáo. Đây là hai thảm họa mà Đức Giáo Hoàng đã lo lắng và đưa ra các phương thức đối phó.

Chủ trương tục hóa (secularism) là chủ trương thực hiện một lối sống coi thường tôn giáo hay bài xích tôn giáo của một số nhà chính trị Tây phương, nhất là ở Mỹ. Họ khuyến khích phát triển đời sống tình dục bừa bãi, cổ võ phá thai, đồng hóa đồng tính luyến ái với chế độ hôn nhân truyền thống... Mục đích của chủ trương này là làm cho con người ngày càng xa dần các tín lý tôn giáo và không còn chịu ảnh hưởng của Giáo Hội nữa. Đức Giáo Hoàng gọi đó là “văn hóa của sự chết.

Tại Hoa Kỳ, một số chính khách của Đảng Dân Chủ đang theo đuổi chủ trương này. Trong cuộc bầu cử vừa qua, các chính khách của Đảng Cộng Hòa đã dựa vào tinh thần chống tục hóa của Thiên Chúa Giáo để thu hút cử tri và đánh bại Đảng Dân Chủ. Nhưng vấn đề không dừng lại ở đây.

Bệnh sợ người Thiên Chúa Giáo. (Christianophobia) cũng đang được hình thành tại nhiều nơi, đưa đến chủ nghĩa bài xích Thiên Chúa Giáo gióng như chủ nghĩa bài xích người Do Thái (anti-Semitism) hay bệnh sợ người Hồi Giáo (Islamophobia)... Hiện tượng này đã xuất hiện công khai tại một số tiểu bang ở Ấn Độ, tại một số quốc gia Hồi Giáo và Phật Giáo... Tại những nơi này, các đạo luật cấm cải đạo đang được lần lượt ban hành. Cải đạo trở thành một trọng tôi. Đây là một thứ luật vi phạm quyền tự do tôn giáo mà các nước cộng sản chưa bao giờ dám xử dụng. Ủy Ban Quốc Tế Tự Do Tôn Giáo của Hoa Kỳ biết rất rõ hiện tượng này, nhưng vì lợi ích kinh tế, đã phớt lờ đi.

Nhưng lực bất tòng tâm. Carl Bernstein và Marco Politi cho biết: Giai đoạn cuối cùng trên cương vị Giáo Hoàng của Wojtyla đã được đánh dấu bằng nỗi đau đớn và sự ốm yếu. Bỗng nhiên thân thể ngài không còn theo ý ngài nữa. Trong lâu đài Tòa Thánh, mọi người thấy ngài đi xuống cầu thang trông già đi hơn tuổi. Các phóng viên cùng đi với ngài trong các chuyến công du đã thấy khuôn mặt ngài căng ra do thuốc. Hai mí mắt của ngài gần như khép chặt, bước đi nặng nề bằng những buớc không còn vững chắc...

Chiều 2.4.2005, Đức TGM Leonardo Sandri đã chính thức loan báo: Đức Giáo Hoàng John Paul II, 84 tuổi, đã qua đời tại nhà nghĩ của ngài vào chiều tối thứ bảy hôm nay (2.4 2005) lúc 9:37 tối, kết thúc 26 năm trong triều đại Giáo Hoàng của ngài. Chúng ta hãy cùng hiệp ý cầu nguyện cho linh hồn của ngài được sớm về Nước Chúa.

Tuy thương thiếc, đa số người công giáo tin rằng mỗi thời đại sẽ có một Ngôn Sứ được sai đến và tất cả đang chờ đợi vị Giáo Hoàng mới. Nhưng lời nhắm nhủ của Đức Giáo Hoàng John Paul II trong đoạn cuốn cùng của cuốn “Bước qua ngưỡng cửa hy vọng” còn vang vọng mãi mãi trong tâm tư của những người tín hữu:

“Về phần tôi, Giáo Hoàng đã khởi đầu triều đại với những lời “Các con đừng sợ”, phải cố gắng hoàn toàn trung tín với lời khuyên nhủ này và luôn sẵn sàng phục vụ con người, phục vụ các quốc gia và phục vụ nhân loại trong tinh thần chân lý Phúc Âm.”


Lữ Giang - Vietcatholic.net
Comments: Post a Comment

<< Trở Về Trang Chính - Trang Đầu
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?