Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, June 21, 2005

PHỎNG VẤN THƯỢNG ĐẾ

Tôi mơ thấy rằng mình có một buổi phỏng vấn với Thượng Đế.

- Mời vào. Thượng Đế nói.

- Con muốn phỏng vấn Ta phải không?

- Nếu Ngài có thời giờ, thưa Ngài. Tôi đáp.

Thượng Đế mỉm cười nói:

- Thời giờ của Ta là vô tận đủ để làm tất cả mọi việc. Con có điều gì thắc mắc muốn hỏi Ta đây?

- Thưa Ngài, điều gì về nhân loại làm cho Ngài kinh ngạc nhất?

Thượng Đế đáp:

- Đó là họ chán làm trẻ thơ, vội vã để trưởng thành, và rồi lại khao khát được trở về thời thơ ấu.

- Họ đánh mất sức khỏe của họ cho việc kiếm tiền rồi tiêu dùng tiền bạc để hồi phục sức khỏe.

- Họ lo nghĩ đến tương lai mà quên đi hiện tại.

- Họ sống như là họ sẽ không bao giờ chết, và họ chết như là họ chưa từng được sống.

Thượng Đế nắm tay tôi, và chúng tôi im lặng trong một khoảng khắc. Sau đó tôi hỏi:

- Khi làm cha mẹ, Ngài có những lời khuyên gì về cuộc sống mà Ngài muốn con cái của Ngài học hỏi?

Với nụ cười nở trên môi Ngài trả lời:

- Học để biết chúng ta không thể làm cho bất cứ ai yêu mến chúng ta, những gì mà chúng ta có thể làm là hãy để bản thân mình được thương yêu.

- Học để biết rằng những gì giá trị nhất trên cõi đời này không phải là của cải vật chất chúng ta sở hữu mà là trong cuộc sống của chúng ta có những ai.

- Học để biết rằng đừng nên so sánh bản thân chúng ta với người khác, vì tất cả mọi người sẽ được phán đoán riêng rẽ dựa trên nhân cách của chính họ.

- Học để biết rằng một người giàu có không phải là người có tất cả, mà chỉ là người cần tối thiểu mà thôi.

- Học để biết rằng chúng ta chỉ mất vài giây để khơi dậy vết đau trong lòng của những người khác, nhưng sẽ mất rất nhiều năm để hàn gắn.

- Học để biết tha thứ bằng cách thực hành hạnh khoan dung.

- Học để biết rằng có những người thương yêu chúng ta tha thiết, nhưng lại không biết làm cách nào để biểu lộ hay bày tỏ những cảm tình của họ.

- Học để biết rằng tiền bạc có thể mua được mọi thứ, nhưng không mua được hạnh phúc.

- Học để biết rằng hai người có thể cùng nhìn vào một vật nhưng lại thấy hoàn toàn khác nhau.

- Học để biết rằng không phải lúc nào người khác tha thứ cho chúng ta là đủ mà chúng ta phải biết thứ tha cho bản thân chúng ta nữa.

Tôi ngồi đó trong một phút giây để hưởng thụ giờ khắc quý báu đó, rồi tiếp:

- Cám ơn thời giờ và mọi việc mà Ngài đã dành cho con.

Ngài đáp:

- Bất cứ giờ phút nào Ta cũng ở đây, các con chỉ cần gọi thì Ta sẽ lập tức trả lời
trích trên trang tamlinh.net
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tuesday, June 14, 2005

    Thái độ cần có đối với người tội lỗi

    Nguyễn Chính Kết


    1. Thái độ yêu thương và hòa nhập của Đức Giêsu đối với những người tội lỗi

    Bất kỳ xã hội nào cũng luôn luôn có người tốt người xấu, người thánh thiện kẻ tội lỗi. Người tốt và thánh thiện thường được kính nể, khâm phục, ưa thích và lui tới. Kẻ xấu hay tội lỗi thường bị khinh thường, tẩy chay và xa tránh. Nhưng Thiên Chúa – là Cha chung của mọi người – không phân biệt đối xử như vậy, vì ai cũng là con cái Ngài, được Ngài yêu thương vô bờ bến. Vì thế, «Người cho mặt trời của Người mọc lên soi sáng kẻ xấu cũng như người tốt, và cho mưa xuống trên người công chính cũng như kẻ bất chính» (Mt 5,45). Cách đối xử không phân biệt của Thiên Chúa được thể hiện qua Đức Giêsu, là hiện thân của Ngài ở trần gian. Chính những người tội lỗi, xấu ác, lại là những người được Ngài quan tâm yêu thương đặc biệt. Ngài đến trần gian vì mọi người, nhưng trước tiên là vì những người tội lỗi: «Tôi không đến để kêu gọi người công chính, mà để kêu gọi người tội lỗi» (Mt 9,13). Và Ngài sẵn sàng «để chín mươi chín con chiên trên núi mà đi tìm con chiên lạc» (Mt 12,18). Và bài Tin Mừng hôm nay (Mt 9,9-13) cho ta thấy cách đối xử nhân hậu, yêu thương, hòa nhập của Đức Giêsu với những người tội lỗi.

    Thói đời, khi tuyển chọn người cộng tác với mình, người ta thường lựa những người mà họ biết chắc là tốt, làm việc được. Còn Đức Giêsu, ngài biết Matthêu là một người thu thuế, bị dân chúng liệt vào hạng tội lỗi, cần xa tránh. Thế mà Ngài vẫn kêu gọi ông làm môn đệ cho Ngài. Chính nhờ được Ngài kêu gọi, ông đã trở nên một con người tốt, một tông đồ nhiệt thành của Ngài. Như vậy, đối với người không tốt, Ngài không chủ trương loại trừ, vứt bỏ, mà thâu nhận họ để gần gũi, yêu thương, hầu giáo dục, cải hóa họ, đưa họ về đường ngay nẻo chính. Kẻ chủ trương loại trừ người xấu, không tín nhiệm họ, không dùng họ, là vì người ấy chỉ nghĩ đến sự thuận lợi cho mình hay công việc của mình. Còn Đức Giêsu, việc cứu độ trần gian, thiết lập Nước Trời mà Ngài phải hoàn thành vô cùng quan trọng. Nhưng Ngài vẫn mời gọi Matthêu – một người đại diện cho thành phần bị cho là tội lỗi – cộng tác vào việc này. Ngài không chỉ nghĩ tới hiệu quả của công việc, mà còn nghĩ đến quyền lợi và hạnh phúc của cả người xấu, kẻ tội lỗi, đến khả năng làm cho họ trở nên tốt nữa.

    2. Cách đối xử nên có đối với người xấu, người tội lỗi

    Một danh nhân nói: Muốn biết lòng nhân của một người, hãy xem cách đối xử của người ấy với bề dưới của họ. Tương tự, ta có thể nói: muốn biết khả năng yêu thương và tâm lượng của một người, hãy xem cách xử sự của người ấy đối với những người tội lỗi, những người có thể làm hại hay bất lợi cho mình. Để có những ý nghĩ tích cực đối với người mà ta nghĩ là xấu, là tội lỗi, tôi xin nêu lên một vài suy nghĩ:

    a) Thế gian này là một trường thi
    Trong một cuộc thi leo núi nọ, mỗi thí sinh được đưa vào một tình huống khác nhau, ở những vị thế cao thấp khác nhau trên sườn núi. Tất cả đều phải trèo lên phía trên. Để đạt được điểm cao, ai cũng phải biểu lộ khả năng ứng biến, kiên nhẫn, dũng cảm và tài khéo… của mình trong khi leo. Thật là buồn cười, ngớ ngẩn và ngu xuẩn khi người được đặt ở gần đỉnh núi lại tự hào và chê bai những người được đặt ở dưới chân núi. Anh tự cho rằng mình ở gần đỉnh núi ắt sẽ là người chiến thắng. Vì thế, anh tội nghiệp pha lẫn ít nhiều khinh bỉ đối với những người đang ở tuốt mãi dưới chân núi. Anh nghĩ: còn lâu họ mới leo được tới đây! Với sự tự hào và tưởng nắm chắc phần thắng ấy, anh cứ "tà tà" mà leo, chẳng thèm cố gắng gì cả, vì anh nghĩ: ai mà vượt qua được anh? Nhưng anh không ngờ trong cùng một khoảng thời gian, có người ở dưới chân núi đã leo được một quãng dài gấp đôi anh dù họ gặp chông gai và khó khăn hơn anh, đồng thời họ tỏ ra dũng cảm và tài năng hơn anh rất nhiều. Kết quả là người ấy đoạt được giải nhất, còn anh lại là người đứng hạng chót, vì anh tỏ ra là người ít cố gắng và ít tài năng nhất. Chính vì thế, Đức Giêsu mới nói: Vào ngày phán xét, «nhiều kẻ đứng đầu sẽ phải xuống hàng chót, và nhiều kẻ đứng chót sẽ được lên hàng đầu» (Mt 19,30).

    Đức Giêsu đã phần nào nói lên lý sự ấy trong dụ ngôn những yến bạc (x. Mt 25,14-30). Dựa vào dụ ngôn này, ta có thể suy nghĩ thêm về giả thiết sau: người nhận được 5 yến có thể không sinh lợi gì hay chỉ làm lợi thêm được 1 yến (tức 1/5 vốn ban đầu); còn người nhận được 1 yến lại làm lợi ra thành 2 hay 3 yến khác (tức gấp 2, gấp 3 vốn ban đầu). Khi họ trình diện thành quả của mình với ông chủ, thì người trước dù có tới 5 hay 6 yến bạc, còn người sau chỉ có 3 hay 4 yến thôi, nhưng ông chủ sẽ đánh giá người sau có tài hơn, và chắc chắn ông sẽ đặt người ấy lên chức vụ cao hơn.

    Cũng vậy, một người nọ – anh A – sinh ra trong một gia đình cha mẹ đạo đức, biết giáo dục con cái, lại làm ăn khá giả, giàu có. Trong hoàn cảnh ấy, người này chẳng cần cố gắng bao nhiêu cũng có thể được xã hội đánh giá là một người rất tốt, vì anh ta không phạm tội trộm cắp bao giờ, do anh ta đã được quá đầy đủ. Trái lại, một người khác – anh B – có cha mẹ thuộc phường "đá cá lăn dưa", lại lâm cảnh nghèo nàn khốn khổ. Trong hoàn cảnh khó khăn ấy, nếu không cố gắng sống hướng thượng, anh ta đã có thể phạm tội trộm cắp mỗi tháng 10 lần. Nhưng anh đã hết sức cố gắng để chừa bỏ thói trộm cắp ấy, vẫn chưa thành công được như ý nguyện. Cho đến nay, anh vẫn còn ăn cắp mỗi tháng một lần. Tuy nhiên, để đạt được kết quả ấy, anh đã phải cố gắng vượt bậc. Vì thế, trước mặt con người, anh B vẫn còn bị coi là một người xấu, xấu hơn anh A rất nhiều. Nhưng trước mặt Thiên Chúa thì sao? Thử hỏi: nếu Thiên Chúa là một Đấng vô cùng sáng suốt và công bằng, thì giữa hai người ấy, Ngài sẽ phải cho ai là người tốt hơn, có thiện chí và có công lao hơn? Khi mà chính Ngài đã để anh A được vô số thuận lợi, và để anh B bị vố số bất lợi? Liệu Ngài có phán xét theo kiểu người đời, chỉ biết dựa vào tình trạng hiện tại của mỗi người mà phán xét chăng?

    b) Thiên Chúa đánh giá con người khác chúng ta
    Ta đừng tưởng những người bị mọi người coi là tội lỗi đều thật sự là những người tội lỗi hơn ta. Coi chừng, cách đánh giá của Thiên Chúa hay Đức Giêsu khác hẳn với ta. Người Pharisêu đánh giá rất thấp hạng thu thuế và phường đĩ điếm, nhưng Đức Giêsu lại quả quyết với họ: «Tôi bảo thật các ông: phường thu thuế và bọn gái điếm sẽ vào Nước Thiên Chúa trước các ông» (Mt 21,31). Trong dụ ngôn hai người cầu nguyện tại đền thờ (Lc 18,9-14), người Pharisêu cứ tưởng mình được Thiên Chúa đánh giá cao hơn người thu thuế rất nhiều. Nhưng sự thật hoàn toàn ngược lại. Đức Giêsu nói: «Tôi nói cho các ông biết: người thu thuế khi trở xuống mà về nhà thì đã được nên công chính rồi; còn người Pharisêu thì không» (Lc 18,14).

    Tại sao vậy? Vì «Người không xét xử theo dáng vẻ bên ngoài, cũng không phán quyết theo lời kẻ khác nói» (Is 11,3; x. Mc 12,14). Nhiều trường hợp dáng vẻ bên ngoài không phản ảnh đúng thực tại bên trong, mà có khi hoàn toàn trái ngược. Thật vậy, một số người Pharisêu bị Đức Giêsu kết án: «Các người cũng vậy, bên ngoài thì có vẻ công chính trước mặt thiên hạ, nhưng bên trong toàn là giả hình và gian ác!» (Mt 23,28). Rất nhiều khi chính chúng ta cũng bị lừa, hoặc tự lừa dối mình, vì vẻ bên ngoài của ta, vì chức vụ cao trọng ta đang nắm. Chúng ta tưởng mình là công chính vì thấy mọi người đều đánh giá ta như vậy, hoặc vì ta đang ở trên một bậc thang rất cao trong Giáo Hội hoặc xã hội. Thế là ta hãnh diện và lên mặt với mọi người. Thật ra, ta đang bị lừa dối bởi chính quan niệm sai lầm của ta. Vì thế, thánh Phaolô mới nói: «Ai tưởng mình đang đứng vững hãy coi chừng kẻo ngã» (1Cr 10,12). Tốt nhất là chúng ta đừng tự đánh giá mình cao quá, đừng vội cho mình đạo đức thánh thiện cho dù ta được mọi người suy tôn như vậy. Vì chưa chắc Thiên Chúa đã đánh giá ta như mọi người đánh giá. Hãy suy nghĩ lời Chúa: «Ai tôn mình lên, sẽ bị hạ xuống; còn ai hạ mình xuống, sẽ được tôn lên» (Mt 23,12; Lc 14,11). Tốt nhất, nên tự đánh giá mình thấp kém một chút, vì tự đánh giá kiểu ấy thường là đúng với sự thật hơn.

    Khi tự đánh giá mình cách khiêm nhu như vậy, ta dễ có thái độ giống Đức Giêsu khi gặp những người tội lỗi: sẵn sàng hòa mình với họ, giao thiệp, ăn uống với họ, coi họ như anh em, bạn hữu của mình, nhất là thật sự yêu thương họ… Chứ không xa cách, khinh bỉ, chê bai, nguyền rủa, ghét cay ghét đắng họ. Thiết tưởng là môn đệ Đức Giêsu, ta phải có thái độ giống như Ngài đối với những người bị mọi người coi là tội lỗi, xấu xa… Chính thái độ đối với những người này mới thật sự chứng tỏ ta có tình yêu đích thực ở bên trong hay không.

    Đọc và suy gẫm Kinh Thánh hằng tuần, có khi hằng ngày, nhưng nhiều khi ta không thấm nhuần được tinh thần yêu thương tha thứ của Đức Giêsu. Mặc dù ta vẫn chê bai người Pharisêu, nhưng đối với người tội lỗi, phản ứng của ta thường rất giống người Pharisêu: ta cũng ưa tẩy chay, xa lánh, kết án, loại trừ những người tội lỗi, đồng thời tự hào rằng mình công chính không khác gì họ. Họ thích áp dụng luật lệ để ném đá cho chết những người phụ nữ ngoại tình, hơn là làm theo đòi hỏi của tình thương trong lòng họ (x. Ga 8,3-5); ta cũng thường hành xử như thế. Còn Đức Giêsu, trong những trường hợp ấy, Ngài không kết án, nhưng thông cảm sâu xa với hoàn cảnh và sự yếu đuối của họ, đồng thời tìm cách cảm hóa để họ đi vào con đường ngay chính (x. Ga 8,11). Chúng ta hãy xin Chúa giúp ta hành xử theo tinh thần yêu thương của Đức Giêsu.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Monday, June 13, 2005

    CHÚA THÁNH THẦN VÀ ƠN GỌI NÊN THÁNH CỦA LINH MỤC

    BÀI GIẢNG TĨNH TÂM CÁC LINH MỤC GIÁO PHẬN PHAN THIẾT 5- 9/1/2004


    Đức Cha Phaolô BÙI VĂN ĐỌC
    Giám mục Giáo Phận Mỹ Tho


    1. Linh mục hãy nhớ mình là người Kitô hữu

    Đời sống thiêng liêng của linh mục cũng triển nở theo những qui luật chung dành cho mọi Kitô-hữu: qui luật cầu nguyện là qui luật đức tin, và qui luật đức tin là qui luật đời sống.


    Mọi Kitô-hữu đều phải tiếp xúc với Chúa Ki-tô, gặp gỡ Ngài trong lòng Giáo Hội, trong cử hành phụng vụ. Mọi Kitô-hữu đều phải củng cố và nuôi dưỡng đức tin, và đức tin ấy phải là đức tin sống động, đi vào cuộc sống thực tế.


    Sự thánh thiện của người Kitô-hữu là nên hoàn hảo như Cha trên trời là Đấng Hoàn Hảo. Mọi Kitô-hữu được mời gọi nên hoàn hảo trong tình yêu. Bác ái là cốt lõi của sự thánh thiện, vì phản ánh bán chất của Thiên Chúa là Tình Yêu.


    Mọi Kitô-hữu đều được hiến thánh trong phép rửa (1 Cr. 6, 1 1), nên đều được kêu gọi nên thánh: Thiên Chúa đã kêu gọi tất cả chúng ta, từ đời đời Người đã tiền định cho tất cả chúng ta trở nên con cái của Người cùng với Đức Ki-tô và trong Đức Ki-tô (Rm 28, 28-30). Người muốn cho ta được thông phần cương vị làm con Thiên Chúa của Đức Ki-tô, và ban cho ta hạnh phúc làm con. Đó là gia tài mà chúng ta được thừa tự, đồng thừa tự với Đức Ki-tô (Rm 8,16).


    Chúa Thánh Thần mạc khải cho chúng ta biết ơn gọi Kitô-hữu và trở nên nguyên nhân, động lực, nguồn suối cho đời sống và việc thể hiện ơn gọi. Chính Ngài là Đấng Thánh Hóa, là sự Thánh Thiện của Thiên Chúa được thông ban cho ta, trở thành sự sống của chúng ta. Có Chúa Thánh Thần trong chúng ta, chúng ta được chia sẻ, được thông phần sự thánh thiện của Thiên Chúa, tình yêu và sự sống, và chính bản tính của Thiên Chúa (2Pr 1, 4).


    Vì là Thần Khí của Chúa Ki-tô, Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta trở nên đồng hình đồng dạng với Đức Ki-tô trong cương vị làm Con Thiên Chúa của Người, trong tình yêu hiếu thảo của Người đối với Chúa Cha. Đó là điều sâu thẳm nhất nơi Đức Ki-tô và cũng là điều cốt yếu nhất. Chúa Thánh Thần làm cho chúng ta nên giống Chúa Ki-tô, học sống đạo với Chúa Ki-tô, học yêu mến Chúa Cha với Chúa Ki-tô, chia sẻ tình yêu gắn bó, mật thiết, say đắm của Chúa đối với Chúa Cha.


    Chúa Thánh Thần còn làm cho chúng ta nên giống Chúa Ki-tô trong lòng mến của Người đối với anh em. Chúa Thánh Thần cho chúng ta chia sẻ tình yêu tự hiến của Chúa, lúc nào cũng sẵn sàng hy sinh sự sống vì những người mình yêu. Chúa Thánh Thần còn cho chúng ta chia sẻ kinh nghiệm được Chúa Cha yêu thương của chính Chúa Ki-tô. Ngài cho chúng ta chia sẻ tất cả những gì sâu kín nơi Chúa Ki-tô.


    2. Đời sống thánh thiện của linh mục

    Linh mục có bổn phận nên thánh như các Kitô-hữu khác, và còn được mời gọi nên thánh cách đặc biệt hơn. Nói theo kiểu Phao-lô, linh mục phải là người thần thiêng trọn hảo, là người cởi mở, luôn săn sàng lắng nghe Thánh Thần. Các ngài bước đi theo Thánh Thần, sống theo Thánh Thần:


    Những ai thuộc về Đức Giêsu-Kitô thì đã đóng đinh xác thịt vào thập giá làm một với các tình dục và đam mê. Nếu sống bởi Thần Khí, thì ta cũng hướng theo Thần Khí mà tiến bước (Gl 5, 25).


    Là thừa tác viên của Đức Ki-tô Phục Sinh vinh hiển, Đấng đã trở nên Thần Khí tác sinh, linh mục phải trở nên thần thiêng cùng với Ngài, vì kẻ kết hiệp với Chúa, thì nên một Thần Khí với Ngài (1 Cr. 6, 1 7).


    CĐ Vatican II khẳng định linh mục nên thánh nhờ thừa tác vụ. Điều đó rất đúng và rất phù hợp, vì thừa tác vụ của linh mục là thừa tác vụ của Thánh Thần (2Cr.3,8), thừa tác vụ công chính hóa (2 Cr 3, 9).


    Linh mục được xức dầu Thánh Thần và sai đi giống như Chúa Ki-tô. Trong bí tích truyền chức, linh mục được hiến thánh vì sứ vụ. Các ngài nhận lãnh Chúa Thánh Thần như một lời mời gọi và một hồng ân thánh hóa trong và qua thừa tác vụ.


    Chính lúc thi hành thừa tác vụ Thần Khí và sự công chính, các linh mục đâm rễ sâu vào đời sống thiêng liêng, miễn là họ biết đón nhận Thần Khí ban sự sống của Đức Ki-tô và để cho Thần Khí dẫn đưa.


    Linh mục nên thánh nhờ công việc rao giảng: bài học khiêm nhường- bài học kiên trì - bài học đức tin- bài học chịu khó- rao giảng còn đi với cầu nguyện cho chính mình và cho người nghe. Việc rao giảng là cơ hội để linh mục không ngừng tiếp xúc với Lời Chúa, và chính Lời Chúa sẽ dưỡng nuôi linh mục, vì Lời Chúa là Lời Sự Sống, đầy Thần Khí. Vả lại tác giả chính của Lời Chúa là Chúa Thánh Thần. Khi tiếp xúc với Lời Chúa, linh mục tiếp xúc với Chúa Thánh Thần là tác giả, được Chúa Thánh Thần hướng dẫn, dạy dỗ. Sách Kinh Thánh mà linh mục không ngừng sử dụng là môi trường tốt nhất để kinh nghiệm về Chúa Thánh Thần. Khi giảng dạy, linh mục hãy nhớ giảng dạy cho chính mình trước.


    Linh mục nên thánh nhờ cử hành các bí tích. Mọi bí tích đều mang lại ân sủng, không những cho thụ nhân, mà cho cả chủ sự cử hành. Mọi bí tích đều là bí tích đức tin, nên sẽ nuôi dưỡng và củng cố đức tin cho thừa tác viên cử hành xứng đáng. Mỗi lần cử hành bí tích là một lần gặp gỡ giữa Đức Ki-tô và Giáo Hội. Linh mục thể hiện đức ái mục tử bằng việc siêng năng cử hành bí tích, sẵn sàng hy sinh thì giờ, sức khoẻ, để ban bí tích cho con chiên. Linh mục còn cử hành phụng vụ để giáo dục Dân Chúa, và chính linh mục cũng được hường nhờ sự giáo dục của Chúa Thánh Thần trong phụng vụ.


    Linh mục là người phân phát các mầu nhiệm (1Cr.4,1). Mầu Nhiệm chủ yếu là Đức Ki-tô, Đấng trong Chúa Thánh Thần, là nguồn sự thánh thiện và là Đấng kêu gọi nên thánh. Mầu Nhiệm ở giữa lòng cuộc sống của linh mục, và là mầu nhiệm ơn cứu độ, là sự sống thần thiêng mà linh mục được hưởng nhờ. Là người phân phát mầu nhiệm, linh mục là người mang Thần Khí Đức Ki-tô đến cho nhân loại. Mầu nhiệm còn là mầu nhiệm thập giá Chúa Ki-tô mà linh mục uốn mình cho phù hợp với.


    Linh mục còn nên thánh nhờ các công việc mục vụ khác: hướng dẫn Dân Chúa, chăm sóc các linh hồn. Linh hồn của các công việc mục vụ phải là đức ái mục tử, mà Chúa Thánh Thần đổ tràn trên con người linh mục, khi ngài được hiến thánh trong bí tích truyền chức, để thừa tác vụ của linh mục là một dịch vụ yêu thương. Mỗi linh mục đều phải đón nhận thừa tác vụ của mình như một nghĩa vụ tình yêu (officium amoris), với tất cả ý thức và tự do, đón nhận vào trong trí tuệ và trái tim, đưa vào trong các quyết định và hành động.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Sunday, June 12, 2005

    TẮT ĐÈN

    Có một anh mù lại thăm một người bạn đến khuya mới về. Người bạn trao cho anh ta một cái đèn.
    - "Tôi cần chi tới đèn, anh ơi. Đối với tôi, ánh sáng cũng như bóng tối mà thôi", người mù buồn bã trả lời.
    - "Tôi biết lắm. Anh chẳng cần đèn để dò đường đi. Nhưng có đèn anh sẽ đỡ bị người khác đâm vào anh. Vậy anh cứ cầm lấy đi."
    Người mù cầm đèn mạnh dạn bước đi. Nhưng chẳng bao lâu, có kẻ đâm thẳng vào anh ta.
    - "Ô hay! Đi đứng phải coi chừng một chút chứ. Bộ ông không nhìn thấy ánh đèn của tôi sao?"
    Người lạ mặt trả lời chậm rãi:
    - "Này ông bạn ơi ! Đèn ông bạn đã tắt từ lâu rồi..." (*)


    Lời bình của Nguyên Si (trích Chim Việt Cành Nam)
    Chắc hẳn sẽ có kẻ đa sầu đa cảm đọc chuyện này mà động mối thương tâm, trách ta sao lấy sự tàn tật của người đời mà làm trò cười cho thiên hạ. Ta xin gạt nước mắt cho người, và đáp : luân lý hay phi luân lý đều không có chỗ đứng trong chuyện Thiền. Dĩ nhiên vẫn có những kẻ trình bày hay hiểu chuyện Thiền như những bài học luân lý, lại có kẻ khác rêu rao rằng Thiền là một hệ thống triết lý hoàn toàn phi luân lý, phi đạo đức, phi nhân bản, phi vân vân. Ta thấy thật chẳng khác chi một đằng trói buộc Thiền lại bằng một sợi dây khô cằn, cứng nhắc, một đằng ném tung Thiền lên thượng tầng không gian, để rồi nhào xuống... hố thẳm của tư tưởng. Hơn nữa, chưa thấu được lẽ Không mà đã bài bác tất cả, ta e ngại rằng thái độ đó chẳng là kiêu ngạo lắm thay!

    Cho nên vấn đề luân lý hay phi luân lý thường đưa tới cố chấp hay ngạo mạn, cả hai đều trái ngược với tinh thần Thiền vậy.

    Chuyện Thiền thường có giá trị biểu tượng, cho nên "mù" ở đây phải hiểu theo một nghĩa rất rộng, chẳng những bao gồm những kẻ không có mắt, mà còn gồm những kẻ "có mắt không ngươi", những kẻ tuy giác quan đầy đủ, nhưng nhận thức vẫn sai lầm. Nói như vậy thì câu chuyện trên xảy ra mỗi ngày, và ở mọi nơi, chẳng có chi là hiếm lắm thay!

    Nhận định sai lầm đầu tiên của kẻ mù là khi được người bạn trao cho cây đèn, anh chỉ nghĩ đến một mặt của cái dụng, tức là soi đường cho anh đi. Anh quên rằng cây đèn còn có thể soi sáng anh như soi sáng một đồ vật, để kẻ khác nhìn thấy mà tránh anh. Ôi, chẳng qua là chấp ngã quá mà thôi! Kẻ ngu si luôn luôn coi mình như trung tâm của vũ trụ, như chủ thể của mọi tiếp xúc. Có biết đâu rằng mình cũng chỉ là một sự vật trong thế giới tương quan, một đối tượng cho một chủ thể khác.

    Ta chợt nhớ tới mùa hè trong thư viện, thường có những kẻ cởi giày cho mát mẻ đôi chân. Chủ thể được mát mẻ, nhưng có biết đâu rằng đôi chân cũng là một đối tượng gây nhiều "khó khăn" cho những kẻ khác?

    Sai lầm thứ nhì của kẻ mù là khi có cây đèn rồi, thì lại chấp chặt vào ý niệm đèn sáng, cho nên quên rằng cây đèn có thể tắt đi. Ôi ! còn gì dễ lu mờ, dễ tắt hơn ngọn đèn đang sáng tỏ? Còn gì tiêu biểu hơn cho tính vô thường của vạn vật, như trong kinh Kim Cương Bát Nhã Ba La Mật Đa, đã có nói:

    "Hãy coi thế giới biến ảo này như một ngôi sao mờ dần buổi bình minh, một chiếc bọt trên giòng sông, một ánh chớp trong đám mây hè, một ngọn đèn le lói, một bóng hình, một giấc mộng."

    Lý do của sự chấp thường là thiếu sót hai thái độ thực nghiệm và phương tiện thường được đề cao trong đạo Phật.

    Thái độ thực nghiệm tức là tìm cách sống gần sự vật, để cho ý niệm của mình về sự vật phù hợp trong mỗi giây phút với sự vật. Như trong câu chuyện, nếu không nhìn thấy ánh sáng thì anh mù vẫn có thể dùng giác quan khác để biết đèn sáng hay đèn tắt, chẳng hạn như lấy tay đo nhiệt độ của cây đèn. Không có thực nghiệm thì con người sẽ chấp vào một ý niệm của mình, một ý niệm tách rời sự vật.

    Thái độ phương tiện nghĩa là hiểu rõ phương tiện, và hiểu rằng phương tiện không phải là chân lý, rằng ngón tay (chỉ mặt trăng) không phải là mặt trăng. Người mù trong câu chuyện không hiểu phương-tiện-đèn là gì, không hiểu chức năng của nó. Ta lại nghĩ đến những kẻ chấp nhận chủ thuyết này nọ, mà không hề thấu hiểu rằng những chủ thuyết đó chỉ là những phương tiện cần phải được ứng dụng tùy theo hoàn cảnh.

    Nhưng cái nguy hại nhất của sự mù lòa, ngu dốt, không phải do chính sự ngu dốt này mà do những bộc phát tình cảm từ đó đưa tới. Nghĩ rằng mình mù lòa đưa tới mặc cảm tự ti, sự buồn bã, chua xót, trách đời. Nghĩ rằng mình có ánh đèn che chở đưa tới thái độ ngạo mạn, hung hăng, gây gổ. Ta thấy vậy mà chép miệng than rằng : Ôi ! trên thế giới này, những kẻ trái lý, sai lầm, ngu si, đần độn nhiều lắm thay ! Chỉ khác với câu chuyện trên là khi nghe nói "đèn tắt rồi", người mù liền tỉnh ngộ, trong khi đó nói lên sự thật cho những kẻ "có mắt không ngươi" lại như chế dầu vào lửa, càng làm cho họ thêm hung hăng...

    Bàn về thiên hạ mãi rồi, Nguyên Si mới vỗ đầu chợt nhớ tới mình vốn cũng là một phần của thiên hạ. Ôi! đa tạ đức sinh thành đã đặt tên cho ta là Nguyên Si. Mỗi lần ta tự gọi tên, cũng là một lời tự nhủ : Si ơi là Si ! Ngu ơi là ngu... Chân lý thì vô cùng tận mà tâm trí ta thì bé nhỏ vô cùng. Chẳng khác chi kẻ mù với một cây đèn đã tắt.

    Thế rồi, từ khiêm tốn ta đi tới buồn lo, lo mãi rồi thì đi kiếm sách đọc, kiếm sách đọc thì gặp một bài thơ của Thiền sư Vạn Hạnh, ý nhị vô cùng :

    Thân như điện ảnh hữu hoàn vô
    Vạn mộc xuân vinh, thu hựu khô
    Nhậm vận thịnh suy, vô bố úy
    Thịnh suy như lộ thảo đầu phô.
    Tạm dịch là :

    Sự vật như bóng chớp, có rồi lại không
    Cây cối vào xuân thì tươi, đến thu lại khô
    Mặc kệ thịnh suy xoay vần, không lo sợ gì
    Thịnh suy chỉ như hạt sương trên đầu ngọn cỏ.

    Ôi ! Sự vật như bóng chớp, như hạt sương, như bèo bọt. Có không hay thịnh suy chỉ là hai trạng thái của một sự vật biến chuyển, hai trạng thái do tâm ta phân biệt mà thôi.
    Có chi mà lo sợ buồn rầu, có chi mà kiêu ngạo hung hăng?

    Phải rồi ! Anh bạn mù ơi, độc giả mù ơi ! Đừng có lôi thôi nữa.

    Hãy tắt đèn trên câu chuyện này đi, mà ra giòng sông nhìn bọt nước vỡ tan, ra cánh đồng nhìn hạt sương bốc theo làn gió ấm.


    Nguyên Si

    (trích Chim Việt Cành Nam)

    (*) Dịch thoát theo quyển "101 chuyện Thiền" ("Zen flesh, Zen bones") do Paul Reps soạn
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Friday, June 10, 2005

    The Seven Gifts of the Holy Spirit

    The Seven Gifts of the Holy Spirit
    by Rev. William G. Most

    We turn now to the Seven Gifts of the sanctifying category. They are: wisdom, understanding, knowledge, counsel, fortitude, piety and fear of the Lord.

    They each perfect certain basic virtues. Four of them perfect the intellectual virtues. Understanding gives an intuitive penetration into truth. Wisdom perfects charity, in order to judge divine things. Knowledge perfects the virtue of hope. The gift of counsel perfects prudence.

    The other three gifts perfect virtues of the will and appetites. The gift of piety perfects justice in giving to others that which is their due. This is especially true of giving God what is His due. Fortitude perfects the virtue of fortitude, in facing dangers. Fear of the Lord perfects temperance in controlling disordered appetites.

    To illustrate the difference between things done with the Gifts and those done with the ordinary virtues, we will take up the gift of counsel.

    There are three kinds of guides a person may follow in making his decisions:

    1) The whim of the moment. Aristotle in his Ethics 1. 5 says that to act that way is a life fit for cattle, who do just what they happen to feel like doing.

    2) Reason, which in practice is always aided by actual graces, which God gives so generously. For example suppose I see three options open to me, all of which are moral. Ideally I would make at least mentally a list of the good points and of the bad points of each. The I would look over the whole board, and pick what gives the best effect for me. Or if I come to think I need penance for my sins, I would ask: How much have I sinned, so I can know how much penance? what kind of penance will fit with my health? with the obligations of my state in life? And after several steps, a decision is reached. This method is called discursive, since it moves from one step to another.

    3) In the third and highest way a soul does not go from one step to another, in a discursive process, but the answer is, as it were, dropped fully made and complete into his mind by the Gifts. This was the case of Our Lady, for example at the annunciation. If she had been operating in the ordinary mode, she might well have reasoned: Now my people have been waiting for centuries for the Messiah (as soon as Gabriel said He would reign over the house of Jacob forever, even any ordinary Jew would have known that He was the messiah). Now he is here. I should share this news with others, especially the authorities in Jerusalem. And what about my husband Joseph? In a short time he will not be able to avoid dark thoughts. But the Gospel shows she did none of these things. God needed to send a special angel to tell Joseph. so the Gifts can lead souls to points not contrary to reason, but far more lofty than what reason would suggest.

    Cf. the following from St. John of the Cross: (Ascent 3.2.10; cf. Living Flame 1.4; 1.9 and 2.34): "God alone moves the powers of these souls . . . to those deeds which are suitable, according to the will and plan of God, and they cannot be moved to others. . . . Such were the actions of the most glorious Virgin, our Lady, who, being elevated from the beginning [of her life] to this lofty state, had never the form of any creature impressed on her, nor was moved by such, but was always moved by the Holy Spirit."

    But there is a danger: a soul could mistake its own desires for action of the Gifts, since the reasons are not clear to it. Two points must be kept in mind: 1) The full and apparent action of these gifts does not appear until one is well advanced in the spiritual life (hidden assistance by them can come earlier). 2) Ordinarily an inspiration via the Gifts leaves the soul not fully certain--a signal to consult a director or superior. Uncommonly they will give certitude, but only when a decision must be made on the spot, and there is no time to consult.

    When a soul acts with usual actual graces God is the most important actor, yet the faculties of the human do churn out the result--hence it is easy to suppose the work is done basically by that soul. But under the action of the Gifts, the soul is more passive, and its own faculties contribute even less.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Bảy Hồng Ân của Chúa Thánh Thần

    "The Seven Gifts of the Holy Spirit" by Baldasare Croce, 1598 VietCatholic News (14/05/2005) Khi nói về Chúa Thánh Thần, sẽ thiếu xót lớn, nếu như chúng ta quên đề cập đến Bảy Hồng Ân mà Ngài ban xuống cho chúng ta.

    Bảy hồng ân của Chúa Thánh Thần gồm có:

    - ơn khôn ngoan (wisdom)
    - ơn hiểu biết (understanding)
    - ơn nhận thức (knowledge)
    - ơn chỉ bảo (counsel)
    - ơn can trường (fortitude)
    - ơn thánh thiện (piety) và
    - sự kính sợ Thiên Chúa (fear of the Lord)

    Tất cả Bảy Ơn đó giúp hoàn thiện nên một số đức tính cơ bản trong bản tính nhân loại của chúng ta.

    Bốn Ơn trên giúp kiện toàn sự khôn ngoan đức hạnh. Ơn Hiểu Biết giúp cho chúng ta biết nhận biết về sự thật bằng chính trực giác của chúng ta. Ơn Khôn Ngoan giúp hoàn thiện nên lòng bác ái, để chúng ta có thể suy xét ra ý chỉ của Thiên Chúa qua tất cả mọi tạo vật. Ơn Nhận Thức giúp làm vẹn toàn đức tính hy vọng. Ơn Chỉ Bảo hoàn thiện nên sự khôn ngoan của con người.

    Ba Ơn còn lại giúp hoàn thiện nên đức tính của ý chí và sự kiềm chế. Ơn Thánh Thiện giúp vẹn toàn sự công bằng, xứng đáng dành cho tất cả mọi người. Điều này đặc biệt đúng về việc hãy trao lại cho Thiên Chúa những gì mà Ngài đáng lãnh nhận từ phía loài người chúng ta. Ơn Can Trường giúp hoàn thiện nên đức tính dũng cảm, hay sự chịu đựng ngoan cường, khi phải diện đối với những hiểm nguy. Lòng Kính Sợ Thiên Chúa giúp chúng ta biết tự chủ lấy chính chúng ta, biết kiểm xoát những xúc cảm bồng bột, tức thời của chúng ta.

    Để minh họa sự khác biệt giữa những sự việc được thực hiện bởi hồng ân của Chúa Thánh Thần, và những sự việc được thực hiện bởi những đức tính thông thường, chúng ta hãy cùng xét đến Ơn Chỉ Bảo.

    Khi đưa ra một quyết định nào đó, có ba loại chỉ dẩn mà một người nào đó sẽ phải theo:

    Chỉ Dẩn 1: Ý tưởng xảy ra / lóe lên trong khoảnh khắc, chớp nhoáng. Aristotle trong Đạo Đức 1.5 có nói rằng: “nếu mà hành động như thế, thì cũng chẳng khác nào cuộc sống của một con gia súc vậy, tức chỉ làm những gì mà mính thích mà thôi hay những gì mà mình muốn làm mà thôi.”

    Chỉ Dẩn 2: tức bằng Lý Trí, vốn trong thực tế luôn luôn được hổ trợ bởi những hồng ân thật sự, mà Thiên Chúa đã trao ban cho chúng ta một cách rộng lượng. Ví dụ như, giả sử có ba giải pháp mở ra trước mặt tôi, và tất cả đều đúng theo luân lý. Thì lý tưởng mà nói, theo lý trí thì chí ích tôi nên lập ra một danh sách gồm những điểm tốt và những điểm xấu của ba giải pháp trên. Rồi thì, tôi mới xem xét một cách tổng thể lại ba giải pháp đó, và chọn ra giải pháp tốt nhất đối với tôi.

    Hoặc nếu như tôi chợt nghĩ là tôi cần phải ăn năn, sám hối những tội lỗi của mình, thì tôi sẽ hỏi: Tôi phạm tội nhiều tới đâu, để tôi có thể biết được phải sám hối đến mức nào? Loại sám hối nào thích hợp với sức khỏe của tôi, và với những trách nhiệm của tôi trong cuộc sống? Và sau nhiều bước tính toán suy nghĩ, thì quyết định sẽ được đưa ra. Thì phương pháp này được gọi là sự lan man, rời rạc (discursive), vì lẽ, nó được tính toán từ bước này sang bước khác.

    Chỉ Dẩn 3: là chỉ dẩn cao nhất mà một tâm hồn nào đó, không cần phải tính toán từ bước này sang bước khác, như là trong một tiến trình lan man, rời rạc đã nêu trên, mà là hoàn toàn được khởi xướng xuống một cách trọn vẹn trong tâm trí do bởi hồng ân của Chúa Thánh Thần. Thì đây chính là trường hợp của Mẹ Maria của chúng ta, ngay tại Lúc Thiên Thần Báo Tin cho Mẹ.

    Nếu như Mẹ hành xử theo lối thường tình của con người, thì chắc có lẽ, Mẹ sẽ suy tính thiệt hơn, chẳng hạn như: giờ đây, dân tộc tôi đang phải chờ đợi trong hàng mấy thế kỷ về Đấng Messiah (ngay sau khi Thiên Thần Gabriel loan báo rằng: Ngài sẽ ngự trị trên nhà Jacob mãi cho đến muôn đời, thậm chí, ngay cả với một người dân Do Thái bình thường cũng có thể nhận biết ra Đấng Messiah). Giờ đây, Ngài đã có mặt tại đây rồi. Tôi phải nên chia sẽ tin này với những người khác, đặc biệt là cho giới chức điều hành của vùng Giêrusalem. Và thế còn người chồng Giuse của tôi thì sao? Chỉ trong một khoảnh khắc ngắn ngủi thôi, anh ấy sẽ không thể tránh khỏi những suy nghĩ ưu tối.

    Thế nhưng Thánh Kinh đã cho chúng ta biết rằng: Mẹ Maria đã không cần phải thực hiện những suy đoán kể trên. Thiên Chúa, đã gởi đến cho Giuse một vị Thiên Thần đặc biệt để nói cho Giuse biết tất cả mọi điều. Qua đó, cho thấy, hồng ân của Chúa Thánh Thần có thể dẫn đưa các tâm hồn đến những luận điểm, chẳng hề trái ngược gì cả với lý trí, mà còn cao thượng (lofty) hơn nhiều so với những gì mà lý trí có thể suy xét ra.

    Đoạn văn sau đến từ Thánh Gioan Thánh Giá: “Một mình Thiên Chúa thôi vì Ngài có đủ mọi quyền hành để đánh động các tâm hồn, và hướng các tâm hồn biết hành động theo những gì là phải lẽ, tương xứng với ý chỉ và kế hoạch của Thiên Chúa, và ngoài Ngài ra, không ai có thể làm được điều đó… Những hành động đó, rõ ràng được hiện thể qua sự vinh hiển của Mẹ Maria, Người mà ngay từ khởi đầu, đã trở nên cao thượng, không hề bị nhuốm tội của trần gian, nhưng luôn được tác động bởi Chúa Thánh Thần.”

    Thế nhưng, cũng có một mối nguy hiểm chính là: một tâm hồn có thể hành động sai trái do ước muốn riêng của mình khi nhận lãnh được hồng ân của Chúa Thánh Thần, vì khi đó, lý trí vẫn chưa được rõ ràng cho lắm.

    Có hai điểm chính mà chúng ta cần phải ghi nhớ đó là: (1) hành động trọn vẹn và rõ ràng của những hồng ân được ban xuống bởi Chúa Thánh Thần sẽ không được xuất hiện ra trước trong đời sống tâm linh (mặc dầu sự trợ giúp bí ẩn của Chúa Thánh Thần có thể đến trước đó); (2) bình thường thì cảm hứng qua những hồng ân lãnh nhận được từ Chúa Thánh Thần, thường để lại trong tâm hồn một sự trống vắng nào đó, hay nói khác đi, một tín hiệu báo cho người đó cần phải tham khảo với một vị giám đốc hay một vị bề trên.

    Điểm đặc biệt phi thường của những hồng ân đó chính là chúng cho con người biết đích xác, biết tin chắc, chỉ khi nào quyết định được đưa ra ngay tức thời, và chúng ta không có đủ thời gian để mà tư vấn.

    Khi một tâm hồn hành động theo đúng những ân huệ thật sự, thì Thiên Chúa chính là Người ra tay hành động, quan trọng nhất, tuy nhiên, chính con người mới nhảy vào phá tung lên (churn out) và gây ra hệ quả, do đó, thật là dễ khi cho rằng công việc đó cơ bản được thực hiện bởi linh hồn đó. Nhưng nếu hành động đúng với những hồng ân được Chúa Thánh Thần ban xuống, thì tâm hồn khi đó thụ động hơn nhiều, và do đó, không thể can thiệp được gì cả, ngoài Chúa Thánh Thần.

    (Đây là bài viết bằng tiếng Anh của Linh Mục William G. Most, được trích đăng trên trang web của EWTN).

    Anthony Lê
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, June 09, 2005

    I Asked God

    I asked God for Strength...
    And He gave me difficulties to make me strong.

    I asked God for Wisdom...
    And He gave me problems to solve.

    I asked God for Prosperity...
    And He gave me brain and brawn to work.

    I asked God for Courage...
    And He gave me danger to overcome.

    I asked God for Love...
    And He gave me troubled people to help.

    I asked God for Favors...
    And He gave me opportunities.

    I received nothing I wanted...
    And I received everything I needed.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?