Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Wednesday, September 28, 2005

LỄ ĐỨC MẸ MÂN CÔI

I. LỊCH SỬ PHỤNG VỤ

Sau cuộc chiến thắng quân Hồi giáo Thổ Nhĩ Kỳ tại vịnh Lépante ngày 7-10-1571, nhờ ơn lạ đặc biệt của Đức Mẹ Rất Thánh Mân Côi, Đức Thánh Piô V dạy rước kiệu Mẹ trọng thể và thành lập lễ Mẹ Thắng Trận vào ngày mồng 7 tháng 10 để ghi ơn Đức Mẹ. Đến đời Đức Grêgôriô XIII, theo lời dòng Đaminh tâu xin, đổi lại ngày lễ. Ngài ra sắc lệnh ngày 1-4-1573 đổi là lễ Mẹ Mân Côi được mừng vào Chúa nhật I tháng 10 tại các nhà thờ tôn kính Mẹ Mân Côi. Năm 1671, lễ này cũng được Đức Clementê X ban phép mừng khắp Giáo hội Tây ban nha. Năm 1716, sau những chiến thắng quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hylạp, các giáo hữu gọi Mẹ là Mẹ chiến thắng và Đức Clêmentê XI truyền cho khắp Giáo hội đặc biệt mừng lễ Mẹ Mân Côi hàng năm. Ngày 11-9-1887, Đức Lêô XIII nâng lễ Mẹ Mân côi lên bậc nhì với kinh lễ và kinh Phụng vụ theo phụng vụ dòng Đaminh. Đức Thánh Piô X ấn định mừng lễ Mẹ Mân Côi vào ngày mồng 7 tháng 10.

II. Ý NGHĨA PHỤNG VỤ

Ý nghĩa lễ Mẹ Mân Côi được dựa trên lịch sử, vẻ tuyệt diệu và thần lực của kinh Mân côi, nhất là do chính Đức Mẹ đã phán dạy và tỏ mình ra là Mẹ rất thánh Mân côi, và nhiều Đức Giáo Hoàng khuyên dạy đọc kinh Mân côi.

A. LỊCH SỬ KINH MÂN CÔI

Kinh mân côi nguyên tiếng Latinh là Rosarium, tiếng Anh, tiếng Pháp là Rose là hoa hồng tượng trương kinh Kính mừng kết thành vòng hoa thiêng dâng kính Đức Mẹ như cổ thời Hylạp, và một số nước hiện nay, người ta làm vòng hoa tươi treo vào cổ trao tặng nhau. Trước kia người ta đếm kinh bằng hạt sỏi, dần dần người ta kết những hạt khác thành chuỗi Mân côi gọi là Rosary.

Thế kỷ XII, 150 Thánh vịnh David dài quá đối với nhiều người không thể đọc được, nên người ta đọc 150 kinh Lạy Cha thay thế. Dần dần người ta đọc 150 kinh Kính Mừng thay 150 kinh Lạy Cha. Do đó Thánh Đaminh gọi là "Thánh vịnh Đức Mẹ". Sau này Đức Sixtô IV gọi tắt là "Thánh vịnh".

Bắt đầu kinh Kính mừng chỉ gồm có lời chào của thiên sứ Gabrie: "Kính mừng Maria đầy ơn phúc. Thiên Chúa ở cùng Bà" (Lc 1:28), rồi được thêm lời chào của bà Thánh Elizabeth: "Bà có phúc lạ hơn mọi người nữ. Và Con lòng Bà gồm phúc lạ" (Lc 1:42). Cũng trong thế kỷ XII, Đức Mẹ hiện ra trao truyền tràng hạt Mân côi cho Thánh Đaminh để cải hoá bè rối Albigensê đang tung hoành ở phía nam nước Pháp. Sang thế kỷ XIII, đời Đức Urbanô IV, Thánh Danh "Giêsu" được thêm vào.

Thời đó người ta đọc 150 kinh Kính mừng cùng với 150 kinh Lạy Cha, nghĩa là mỗi kinh Kính mừng một kinh Lạy Cha. Đến thế kỷ XIV, thầy Henry Kalkar (1328-1408), dòng Carthusian do Thánh Brunô sáng lập, chia 150 kinh Kính mừng thành từng chục (10) mỗi chục một kinh Lạy Cha. Thế kỷ XV, Cha Đaminh Prussia (1384-1460) cũng dòng Carthusian chia 150 Kinh Kính mừng thành 3 chỗi 50. Cũng trong thế kỷ này, Chân phúc Alanô de la Roche hay là De Rupe thêm phần suy niệm các mầu nhiệm trong khi lần chuỗi. Từ nay tràng kinh Mân côi gọi là "Vòng hoa hồng". Chân phúc Alanô nhiệt thành phổ biến kinh Mân côi mà Đức Mẹ đã trao truyền cho Thánh Đaminh. Chân phúc Alanô thành lập Hội Mân côi năm 1480 và được Đức Mẹ hứa ban 15 ơn cho những ai trung thành đọc kinh Mân côi. Năm 1521, cha Albertô da Castello, O.P., sửa lại mỗi kinh Lạy Cha với một mầu nhiệm. Năm 1569, Đức Thánh Piô V với bửu sắc "Consueverent Romani Pontifices" thêm phần thứ hai kinh Kính mừng: "Thánh Maria, Đức Mẹ Chúa Trời..." với kinh Sáng danh, và ấn định kinh Mân côi như chúng ta đọc ngày nay.

B. VẼ TUYỆT DIỆU CỦA KINH MÂN CÔI

Vẻ tuyệt diệu Kinh mân côi gồm hai phần như linh hồn và xác Kinh mân côi.
1. Suy ngắm những mầu nhiệm cuộc đời Chúa Cứu thế và cuộc đời Đức Mẹ. Trước kia người ta đọc Thánh vịnh Đức Mẹ là 150 kinh Kính mừng và suy ngắm 150 mầu nhiệm. Nhưng rồi 150 mầu nhiệm được rút lại 15 mầu nhiệm cho 15 chục kinh. 15 mầu nhiệm như là bản tóm Phúc âm nhắc nhớ Đức Mẹ đồng công với Chúa Kitô trong việc Cứu chuộc loài người từ biến cố mầu nhiệm Nhập thể tới mầu nhiệm Cứu chuộc. Do đó kinh Mân côi bắt nguồn từ bản tính Phúc âm và dẫn ta tới Phúc âm. Phần suy niệm 15 mầu nhiệm chia làm 3 phần vui, thương, mừng là linh hồn kinh Mân côi. Nếu đọc kinh Mân côi mà không suy niệm mầu nhiệm, kinh Mân côi sẽ chỉ có xác mà không có hồn. Đức Mẹ Fatima dạy rõ: "Đọc kinh Mân côi và suy ngắm mầu nhiệm".

2. Phần kinh đọc gồm:
a. Kinh Lạy Cha là kinh cầu nguyện chính Chúa Giêsu đã dạy.
b. Kinh Kính mừng là lời thiên sứ Gabriê và lời Thánh Elizabeth chào chúc Đức Mẹ (Lc 1:28, 41-42). Kinh Thánh Maria Đức Mẹ Chúa Trời do Đức Thánh Piô V thêm vào năm 1569.
c. Kinh Sáng Danh cũng được ngài thêm vào.
Nói chung kinh Mân côi tuyệt diệu vì bắt nguồn từ trời cao, chính Đức Mẹ đã phán dạy và các đức Giáo Hoàng, kể từ Đức Thánh Piô V đã không ngừng khuyến khích và dòng Thánh Đaminh đã nhiệt thành turyền bá sâu rộng.

C. THẦN LỰC KINH MÂN CÔI

Ngoài những ơn lạ Đức Mẹ ban nhờ thần lực của kinh Mân côi về phần hồn cũng như phần xác, lịch sử Giáo hội đã ghi lại 3 cuộc chiến thắng oanh liệt của Kinh Mân côi:

1. Đầu thế kỷ XII bè rối Albigensê nổi lên miền nam nước Pháp gieo lầm than và đau khổ cho dân nước Pháp. Mọi cố gắng của đạo và đời ngăn chặn bè rối tác hại này đã vô hiệu. Thánh Đaminh đứng ra khấn xin Đức Mẹ soi sáng cách nào để cứu vớt những tâm hồn sai lạc. Đức Mẹ đã hiện ra với ngài, Mẹ cầm một chuỗi Mân côi, dạy ngài cách đọc Kinh Mân côi và truyền cho ngài rao giảng như một phương thuốc linh nghiệm ngăn ngừa tội lỗi và sự lầm lạc. Quả nhiên, hơn 100 ngàn kẻ rối đạo đã từ bỏ sự lầm lạc, và rất nhiều người được thêm phấn khởi sốt sắng đọc kinh Mân côi.

2. Thế kỷ XVI quân Hồi Thổ Nhĩ Kỳ hùng mạnh, đe doạ xâm chiến toàn vùng miền đất Công giáo Âu châu. Trước mối nguy cơ đó, Đức Thánh Piô V truyền lệnh cho các giáo phận tổ chức một nghi thức cầu nguyện gọi là "việc cầu nguyện 40 giờ" gồm các cuộc cung nghinh Đức Mẹ và đọc kinh Mân côi. Khi thuỷ quân của Hồi giáo xuống vịnh Lépante để tràn sang Âu châu, và trong khi đô đốc Don Juan người nước Áo chỉ huy hải quân Công giáo ra nghinh chiến, Đức Thánh Piô V cùng với tòan thể giáo dân rước kiệu Mẹ và đọc Kinh Mân côi cầu cho các chiến sĩ Công giáo chiến thắng. Bỗng nhiên, tại vịnh Lépante gió đổi chiều làm lợi điểm cho các chiến hạm Công giáo ào ạt tấn công đánh chìm các chiến hạm Hồi giáo, làm cho bọn họ hoàn toàn bại trận ngày Chúa nhật 7-10-1571 . Nói về cuộc chiến thắng vịnh Lépante nhờ Đức Mẹ Mân Côi, Đức Piô XI viết: "Khi quân lực Hồi giáo kiêu hùng với những chiến thuyền hùng mạnh đe doạ khắp các nước Công giáo Âu châu, Đức Giáo hoàng (Thánh Piô V) kêu gọi tất cả giáo dân sốt sắng khấn xin Mẹ lành trợ lực, địch quân bị bại trận, các chiến thuyền của họ bị đánh chìm".

3. Sau cuộc chiến thắng vịnh Lépante, đạo binh Công giáo còn chiến thắng Hồi quân Thổ Nhĩ Kỳ tại Temeswar và Corfu ở ven biển Hy lạp đời Đức Clêmentê XI.

D. CHÍNH ĐỨC MẸ ĐÃ PHÁN DẠY

* Mẹ Maria phán dạy Chân phước Alanô: "Bất cứ ai trung thành đọc kinh Mân côi và suy ngắm những mầu nhiệm sẽ được ân thưởng. Mẹ sẽ xin cho họ được tha mọi hình phạt và mọi tội lỗi trong giờ họ chết. Điều đó rất dễ đối với Mẹ, vì Mẹ là Mẹ Vua Trời và Người gọi Mẹ là Đấng đầy ơn. Và vì đầy ơn, Mẹ có thể ban phát ơn phúc cho các con cái dấu yêu của Mẹ".

* Tại Lộ Đức, Đức Mẹ hiện ra với Bernađetta, đeo tràng hạt vàng ở cánh tay phải, và đọc kinh Mân côi với Bernađetta.

* Tại Fatima, Đức mẹ hiện ra với 3 trẻ em Lucia, Phanxicô và Giaxinta 6 lần từ 13 tháng 5 tới 13 tháng 10 năm 1917. Cả 6 lần Đức Mẹ đều thúc giục: "Các con hãy tiếp tục đọc kinh Mân côi hằng ngày". Ngày 13 tháng 10, Đức Mẹ xưng mình: "Ta là Đức Mẹ Mân Côi".

E. CÁC ĐỨC GIÁO HOÀNG KHUYÊN DẠY

Từ khi Đức Mẹ trao truyền Thánh Đaminh và chân phước Alanô rao giảng Kinh Mân côi, rất nhiều Đức Giáo Hoàng khuyên dạy và khích lệ. Nhất là các Đức Giáo Hoàng: Đức Lêô X, Đức Thánh Piô V, Đức Gregoriô XIII, Đức Sixtô V, Đức Clementê VIII, Đức Alexandrô VII, Đức Clementê IX, Đức Clementê X, Đức Innocentê XI, Đức Benedictô XIII, Đức Benedictô XIV, Đức Clementê XIX, Đức Piô VII, Đức Piô IX, Đức Lêô XIII, Đức Benedictô XV, và Đức Piô XI. Đáng kể nhất là Đức Lêô XIII đã được gọi là Đức Giáo hoàng của kinh Mân côi vì riêng ngài đã ban hành 9 thông điệp và 3 tông thư về kinh Mân côi. Sau các ngài, đáng kể có Đức Piô XII, Đức Phaolô VI và Đức Gioan Phaolô II.

III. Ý NGHĨA LỜI CHÚA TRONG THÁNH LỄ

Bài đọc I: Tông đồ Công vụ 1:12-14

Đoạn văn thuật lại Giáo hội tiên khởi cầu nguyện tại Giêrusalem. Có ba nhóm được chứng kiến cuộc đời của Chúa Giêsu:

Nhóm 1: Các Tông đồ đã cùng sống với Chúa Giêsu từ lúc Gioan làm phép rửa, cho đến ngày Chúa Giêsu lên trời;

Nhóm 2: Các bà đi viếng mồ mà thấy mồ trống không thấy xác Chúa (xem Lc 24:22-24);

Nhóm 3: Mẹ Maria và các anh em Chúa đã chứng kiến thời thơ ấu của Chúa Giêsu.

Tất cả họ đồng tâm nhất trí chuyên cần cầu nguyện. Kinh Mân côi ngày nay là một kinh cầu nguyện noi gương Mẹ Maria, và như là một phương thế kết hợp với Mẹ để đi sâu vào mầu nhiệm của Chúa Giêsu, Con Mẹ.

Phúc âm: Luca 1:26-38

Thánh truyện Truyền tin là mầu nhiệm thứ nhất của kinh Mân côi, được chọn vào lễ Đức Mẹ Mân côi vì liên quan tới lời Đức Mẹ thưa thiên sứ: "Này tôi là tôi tớ Chúa, tôi xin vâng như lời ngài truyền". Mẹ được thiên sứ cho biết Mẹ được đẹp lòng Thiên Chúa và đối với Chúa thì không có gì là không có thể. Mẹ đã thưa "Xin vâng" thánh lệnh của Thiên Chúa và đã trở nên Mẹ Chúa Cứu Thế.


Công đồng Vatican II nói về đời sống của Mẹ: "Đức Trinh Nữ tiến lên trong cuộc lữ hành đức tin" (LG, 58). Cuộc lữ hành là cuộc lên đường về nơi thánh: Mẹ Maria đã lên đường đi lên đồi Canvê nơi Chúa tự hiến tế. Rồi Mẹ cùng với cộng đoàn tiên khởi lên lầu trên đợi Chúa Thánh Thần xuống. Biến cố Truyền tin và đời sống Mẹ cho chúng ta một gương mẫu đức tin trong ba hoàn cảnh: Mẹ tin vào Thiên Chúa, Mẹ phó thác nơi Người, và Mẹ sống theo kế hoạch của Người. Đức tin không những là ý nghĩa đầy đủ của lời nói xuông, nhưng là một lời "Yes" và Amen dõng dạc đáp lại những lời phán bảo, những lời phán hứa và những lệnh truyền của Thiên Chúa.

IV. MƯỜI LĂM ƠN ĐỨC MẸ HỨA BAN CHO NHỮNG AI ĐỌC KINH MÂN CÔI

Đức Mẹ hiện ra với chân phước Alanô long trọng hứa ban 15 đặc ân sau đây:
1. Những ai trung thành phụng sự Mẹ bằng cách đọc kinh Mân côi sẽ nhận được những ơn cao cả.
2. Mẹ hứa sẽ phù trợ đặc biệt và ban nhiều đặc ân cho những ai đọc kinh Mân côi.
3. Kinh mân côi sẽ là áo mã giáp để chống lại hoả ngục. Kinh Mân côi tiêu diệt thói xấu, giảm thiểu tội lỗi, và phá tan các ngụy thuyết.
4. Kinh Mân côi giúp nhân đức và các việc lành triển nở. Kinh Mân côi kéo nhiều tình thương của Chúa xuống trên các linh hồn; giúp người ta khinh chê thế tục cùng những giả trá của nó, và nâng tâm hồn họ khao khát những của trên trời. Thực, kinh Mân côi chính là phương tiện giúp thánh hoá các linh hồn.
5. Linh hồn đến với Mẹ bằng kinh Mân côi sẽ không hư mất.
6. Những ai đọc kinh Mân côi sốt sắng và áp dụng những mầu nhiệm của kinh Mân côi vào đời sống mình sẽ không sợ bị rủi ro. Chúa sẽ nhân từ với họ và họ sẽ không phải chết bất tử. Nếu đã sống công chính, họ sẽ được bền vững mãi trong ơn Chúa và xứng đáng hưởng Quê Trời.
7. Những ai thực tôn sùng mầu nhiệm Mân côi sẽ được ơn chịu các phép Bí tích trước giờ chết.
8. Những ai trung thành lần hạt Mân côi, khi sống và nhất là trong giờ chết, sẽ được ánh sáng Chúa soi dẫn cùng với đầy dẫy ân huệ của Ngài. Khi lâm tử, họ sẽ được chia sẻ huân nghiệp của các thánh trên thiên đàng.
9. Mẹ sẽ cứu khỏi luyện tội những ai tôn sùng phép lần hạt Mân côi.
10. Những con cái trung thành của phép lần hạt Mân côi sẽ được thừa hưởng vinh quang lớn lao trên trời.
11. Nhờ lần hạt Mân côi, các con sẽ được hết những gì mình xin.
12. Những ai truyền bá phép lần hạt Mân côi sẽ được Mẹ giúp đỡ trong lúc gian truân, khốn khổ.
13. Mẹ đã xin Con chí thánh Mẹ ơn này cho những ai truyền bá phép lần hạt Mân côi, là họ sẽ được cả Triều đình Thiên quốc cầu bầu cho khi sống và trong giờ lâm tử.
14. Những ai đọc kinh Mân côi đều là con cái Mẹ và là anh em với Con Một Mẹ là Chúa Giêsu Kitô.
15. Tôn sùng phép lần hạt Mân côi là dấu chắc chắn được ơn tiền định cứu rỗi.

V. LỜI CÁC THÁNH

- Thánh Gioan Kim Khẩu: Thiên Chúa cai trị thế gian, nhưng kinh nguyện điều khiển Thiên Chúa.
- Thánh Augustinô: Bất cứ lúc nào chúng ta sốt sắng đọc kinh Lạy Cha, tội mọn của chúng ta sẽ được thứ tha.
- Thánh Bênađô: Kinh Kính mừng làm cho quỉ dữ trốn chạy, hoả ngục run sợ.
- Thánh Đaminh: Sau thánh lễ và kinh Phụng vụ, không có sự tôn kính nào đẹp lòng Chúa Giêsu và Mẹ Thánh Người bằng sốt sắng đọc kinh Mân côi.
- Thánh Bônaventura: Ai lơ là với Mẹ sẽ chết trong tội lỗi. Mẹ Maria chào chúc chúng ta với ơn lành, nếu chúng ta kính chào Mẹ bằng kinh Kính mừng.
- Đức Mẹ phán với thánh Mechtildê: Mẹ muốn con biết rằng không ai có thể làm đẹp lòng Mẹ bằng đọc lời thiên sứ chào Mẹ mà Chúa Ba Ngôi chí thánh gửi xuống cho Mẹ và nâng Mẹ lên chức phẩm Mẹ Thiên Chúa.
- Thánh Giêtrudê xem thấy Chúa Giêsu đếm tiền vàng. Chúa nói: Cha đếm kinh Kính mừng mà con đọc. Đó là tiền mà con có thể mua đường lên thiên đàng.
- Thánh Tôma Kempi: Bạn hãy ân cần kính chào Mẹ bằng lời thiên sứ đã chào Mẹ, Mẹ rất hoan hỉ khi nghe lời chào ấy.
- Chân phúc Alanô: Kinh Kính mừng là một cầu vòng trên trời, là một dấu chỉ lòng thương xót và ân sủng Thiên Chúa ban cho thế giới. Mẹ muốn dân chúng có lòng sùng kính kinh Mân côi được ơn thánh và phúc lành của Con Mẹ torng cuộc sống và trong giờ họ chết. Mẹ muốn họ thoát khỏi mọi ràng buộc, để họ nên giống các vua đội triều thiên, cầm phủ việt và hưởng phúc vinh quang vĩnh cửu.
- Thánh Bôrômêô: Kinh Mân côi là kinh linh thánh nhất sau thánh lễ hy tế. Các bạn hãy đọc kinh Mân côi siêng năng bao nhiêu có thể.
- Thánh Montfort: Những người rối đạo, những người vô tín ngưỡng, những người kiêu căng chê ghét hay khinh thị kinh Kính mừng và kinh Mân côi, là những người có dấu bị trầm luân hoả ngục. Không có gì có hiệu lực được lên nước Thiên Chúa bằng đọc kinh Mân côi và suy ngắm 15 mầu nhiệm.
- Thánh Phanxicô Salêsiô: Đọc kinh Mân côi là việc thích thú nhất và là niềm vui thứ nhất của lòng tôi.
- Thánh Anphong: Nhờ kinh Mân côi, biết bao tội nhân bỏ đường tội lỗi, bao linh hồn đã tiến cao trong nẻo trọn lành. Biết bao người nhờ kinh Mân côi đã được ơn chết lành và hưởng phúc trường sinh.
- Thánh Vianney: Tôi biết điều có mãnh lực hơn Thiên Chúa là người cầu nguyện làm cho Thiên Chúa nói "được", khi Người đã nói "không được".

VI. GIÁO HUẤN CỦA GIÁO HỘI

- Đức Clêmentê XIII: Ta khoan dung ban một ơn đại xá, một năm một lần cho mỗi người và cho mọi người thật lòng thống hối xưng tội, rước lễ, sốt sắng đọc kinh Mân côi trong giờ đã định cho họ, và cầu nguyện để tiêu diệt các bè rối và thăng tiến Giáo hội.
- Đức Grêgôriô XVI: Một niềm vui biết bao nhớ lại kinh Mân côi lợi ích cho Giáo hội Công giáo, cũng như cho giáo dân hợp nhau cầu nguyện cầu xin ơn che chở của Rất thánh Trinh nữ.
- Đức Piô IX: Mỗi phần tử hội kinh Mân côi liên tiếp ngày đêm lần lượt đọc kinh Mân côi như một sự tôn kính không ngừng dâng lên Mẹ Thiên Chúa.
- Đức Lêô XIII: Các ơn lành Mẹ ban đã được chứng minh rằng nhiều người đã nhận được hiệu lực kinh Mân côi mà Mẹ đã ban dạy và thánh Đaminh đã vất vả truyền bá.
- Đức thánh Piô X: Không gì hoàn hảo bằng nhiều tiếng từ khắp nơi trên thế giới cùng dâng lên van xin Rất thánh đồng trinh maria như họ suy ngắm những mầu nhiệm Chúa Kitô, để những ơn lành của lòng từ ái Mẹ không ngừng ban xuống trên Giáo hội.
- Đức Bênêđictô XV: Kinh Mân côi cần thiết hơn bao giờ hết, vì không những dâng lên Mẹ để nhờ Mẹ làm đẹp lòng Thiên Chúa ban mọi ơn cho chúng ta, và vì hơn mọi kinh khác, kinh Mân côi mang một dấu hiệu kinh chung gia đình.
- Đức Piô XI: Kinh Mân côi thực là một triều thiên hoa hồng rự rỡ nhất mà tuổi thanh xuân có thể đội: Đó là những đoá hồng trinh khiết và đoá hồng tình mến, đoá hồng tình yêu huynh đệ, đoá hồng chí tông đồ tươi nở trong khung cảnh lộng lẫy của một gia đình thiêng liêng như đoàn Thanh niên Công giáo Tiến hành.
- Đức Piô XII: Gia đình tụ họo bủôi chiều đọc kinh Mân côi tôn kính Nữ Vương Thiên đàng. Đời sống gia đình Kitô hữu và lòng sùng đạo thấm nhuần torng các con cái mầm ơn gọi linh mục và tu sĩ. Tinh thần hy sinh Kitô hữu dạy họ chịu đựng nghịch cảnh và sầu đau. Nếu noi gương Mẹ Maria, gia đình sẽ là một nguồn suối các nhân đức, và bình an luôn ngự trị trong đó.
- Đức Gioan XXIII: Chớ gì kinh Mân côi gia đình là một hương thơm sự an bình cho gia đình các con. Ước chi con cái của các con chạy đến với Mẹ maria để gìn giữ sự trong trắng thơ ngây. Ước chi các bạn thanh thiếu niên học được nơi Đức Mẹ sự phấn khởi làm việc thiện và bảo đảm sự thanh khiết của họ. Ước chi người đau khổ hy vọng được niềm an ủi nơi Đức Nữ Trinh.
- Đức Phaolô VI: Kinh Mân côi đạo đức và phổ cập hiện ra như một chuỗi cứu độ treo trên cánh tay Chúa Cứu Thế và Mẹ Thánh Người, và do đó phát ra mọi ơn lành cho chúng ta và mọi niềm hy vọng đến với chúng ta.
- Đức Gioan Phaolô II: Trong những chục kinh Mân côi, tấm lòng chúng ta có thể hái lượm được những sự kiện làm thành đời sống cá nhân, gia đình, dân tộc, giáo hội và thế giới. Đó là những vấn đề cá nhân hay người thân cận, người thân quyến chúng ta. Như vậy, kinh Mân côi hoà nhịp đời sống con người.


L.m. Phêrô, CMC (theo dongcong.net)
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Friday, September 23, 2005

    ƯỚC NGUYỆN


    Ước nguyện tay con là tay Ngài.
    Ước nguyện mắt con là mắt Ngài.
    Ước nguyện lưỡi con là lưỡi Ngài.
    Ước nguyện giác quan của con
    và thân xác của con chỉ phục vụ
    cho vinh danh Ngài.

    Nhưng trên hết, xin Ngài hãy biến đổi con:
    Ước nguyện trí nhớ con, trí khôn con,
    quả tim con, là trí nhớ Ngài,
    trí khôn Ngài và quả tim Ngài!
    Ước nguyện các hành động của con
    và các tình cảm của con
    nên giống như các hành động của Ngài
    và các tình cảm của Ngài!

    Amen.

    * * *

    Lời cầu nguyện của Thánh Jean-Gabriel Perboyre (1802-1840) [thuộc dòng Vinh Sơn, sinh tại Mongesty, Pháp Quốc, ngày 6-1-1802], Tử Đạo tại Trung Hoa ngày 11 tháng 9, 1840, tuy vắn gọn, nhưng hết sức quan trọng.

    Sau khi được rửa tội, tín hữu trong thời đại của các Giáo phụ, đã được gọi là “Christianus alter Christus”, có nghĩa: “Kitô hữu là một Chúa Kitô khác”. Tước vị đặc biệt này muốn “nhấn mạnh đến nhân phẩm cao quý của người đã nhận Phép Thanh Tẩy, và được kêu gọi tiến tới sự hoàn thiện, nhờ Đức Kitô” (x. Bước Qua Ngưỡng Cửa Hy Vọng, chương “Giáo Hoàng, huyền thoại hay chứng nhân?”)

    Trên thực tế, rất nhiều “Chúa Kitô khác” ngày nay đã/đang/sẽ sống như những… “khác Chúa Kitô”! Và, bi đát thay, lối sống này đưa họ xuống hỏa ngục, nơi “khóc lóc và nghiến răng” (x. Mt 13:41 ).

    Muốn lên Thiên Đàng vui hưởng hạnh phúc đích thật với Thiên Chúa, Mẹ Maria và các Thánh Nam Nữ, chúng ta phải luôn luôn ý thức mình là con của Cha trên trời.

    Tôi còn nhớ một nhận định rất hi hữu của tác giả mình đã quên tên: “Cửa Thiên Đàng mở rộng, người ta lại không chịu vào; trong khi cửa địa ngục khép kín, thiên hạ lũ lượt đòi đi vào”.

    Thiên Chúa tuyệt đối tôn trọng tự do của chúng ta.
    Lên Thiên Đàng hay xuống địa ngục là quyết định của mỗi người.

    LM. Joseph Nguyễn Thanh (theo nguoitinhuu.com)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Sunday, September 18, 2005

    Một câu chuyện thiền --Chén Trà


    Chén Trà
    Nan-in, một thiền sư Nhật bản dưới thời Minh Trị (1868-1912), ngày kia tiếp một giáo sư đại học đến hỏi Thiền.
    Nan-in pha trà, ông rót trà đầy chén của khách, rồi vẫn tiếp tục rót.
    Vị giáo sư nhìn nước trà chảy ra ngoài cho đến khi ông không thể tự kiềm chế được nữa bèn nói: "Chén đầy rồi !"
    Nan-in trả lời: "Như chén trà kia, trí ngài đầy cả những ý tưởng, những suy luận thuần lý riêng tư. Làm thế nào tôi có thể chỉ Thiền cho ngài, trừ phi ngài đã đổ sạch trà trong cốc của ngài ra ?" (*)

    Lời bình của Tung Sơn (trích Chim Việt Cành Nam)

    Một bạn đọc lời bàn bạc thô thiển và quê mùa của ta xong trách: "Lối bàn của bác thiếu tôn kính. Đối với ngôn từ của những bậc cao minh hiền giả ngày xưa, làm sao bác lại dám đùa cợt, phê bình phóng túng như vậy ?"

    Ta ngửa mặt nhìn trời cười to mà không nói, không phải vì học đòi các vị thiền sư, nhưng vì thấy người đang giận, sợ trả lời ngay thì đâm ra cãi vả vô ích.

    Ôi! ta nghĩ chuyện thiền là những thí dụ điển hình, có thể dùng làm khởi điểm để suy nghĩ về một số vấn đề căn bản ở đời, và tuyệt nhiên không có tính cách thần bí, linh thiêng. Thế thì bổn phận của người bàn không phải là tán dương suông, không phải là thổi vào rún các vị thiền sư để những chiếc bụng xẹp lép vì ăn uống thanh đạm của các ngài phùng to một cách không đẹp và vô ích.

    Ôi mọi chuyện ngụ ngôn đều hạn chế và diễn tả một chân lý tương đối. Khư khư bám chặt vào chúng là một chuyện khôi hài vậy. Cho nên khi tuyên bố "Ta vốn không nói lời nào" (ngã bổn vô ngôn), đã đành đức Phật muốn nói là những điều Người đã dạy cho đệ tử không đáng kể gì so với những điều Người chứng ngộ, nhưng một đàng người cũng muốn ngăn ngừa tinh thần giáo điều chấp chặt vào kinh điển, trở ngại lớn lao cho hạnh tinh tấn.

    Chuyện thiền trên đây nhằm đả kích chủ nghĩa giáo điều hẹp hòi và tinh thần cố chấp thường gặp ở những người trí thức vậy.

    Ôi! cũng như chén trà đầy nước, một khi chúng ta đã nô lệ thành kiến, giáo điều rồi thì làm sao chúng ta có thể đối thoại một cách hữu ích với người khác.

    Nhưng có người sẽ hỏi: "Câu nói của vị thiền sư há không thể ứng dụng cho chính ông ta hay sao? Dựa vào đâu mà ông cho là những tư tưởng của chính ông là đúng? Và liệu thiền sư lại không phải đổ sạch trà ra khỏi chén của ông ta sao?"

    Câu hỏi hoàn toàn chí lý và chính đáng. Câu nói của vị thiền sư cần phải được xem như là lời cảnh cáo cần thiết cho một cuộc đối thoại đích thực nghĩa là một cuộc đối thoại nhằm đi tìm sự thực, trên cơ sở luận lý.
    Chính vì vậy mà đạo Phật đề cao tinh thần phá chấp và hỉ xả: không bám chặt những tư tưởng của riêng mình và luôn luôn hoan hỉ đón nhận những tư tưởng đúng đắn, tốt đẹp của người khác.

    Do đó, yêu cầu mà vị thiền sư đặt ra cho khách, ngài vẫn thường xuyên đặt ra cho chính mình nếu ngài không chối bỏ tinh thần hỉ xả mà bất cứ người Phật tử chân chính nào cũng phải thực hành. Hình ảnh chiếc chén không, như vậy, diễn tả tinh thần hỉ xả, sẵn sàng chấp nhận chân lý bất cứ đến từ đâu.

    Và những kẻ ăn nói hồ đồ, không dám nhìn sự thực và lý luận trên những dữ kiện khách quan đúng đắn, chỉ đáng làm trò cười cho thiên hạ vậy.
    Tung Sơn
    (trích Chim Việt Cành Nam)


    (*) Dịch thoát theo quyển "101 chuyện Thiền" ("Zen flesh, Zen bones") do Paul Reps soạn.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Friday, September 16, 2005

    Phật giáo và Kitô giáo Một vài điểm Mâu Thuẫn

    Vô Ngã - Ngụy Ngã - Chân Ngã

    Phật tử chúng ta xác quyết rằng không có cái "Tôi"; chúng ta phủ nhận thật sự chẳng có một "Ngã"; chúng ta khẳng định rằng nói được điều đó có nghĩa là thấy được thực tại "tự thân". Truyền thống phật giáo trung thành với những điều đã được chính Ðức Phật lập ngôn. Trên quan điểm "tối hậu", trên quan điểm Dharma, vốn là quan điểm lập ngôn của Ðức Phật, bất kỳ phật tử nào cũng coi đó là những điều tuyệt đối có thực chứ không phải là những ẩn dụ, "có tính ước định". Bởi vì quan điểm Giải Thoát Tối Hậu đó thực sự quan trọng và sống thực hơn mọi quan điểm lý thuyết, luận suy, duy lý và triết lý.

    Chính trong ý nghĩa tối hậu đó, tối hậu ở chổ chẳng có thể có ý nghĩa nào tối hậu hơn, "tối hậu hơn cả tối hậu" xét trên phương diện con người và tuyệt đối, mà lời của Ðức Phật; An-attà = Vô Ngã thì "tuyệt đối" thực.

    Câu phát biểu "Cái tôi không phải là thực ngã" có thể là một cách giải thích của Anattà nữa hay không? Chúng ta có thể hiểu câu nói đó như thế này: cái "Tôi" thường nghiệm và cá biệt được lập căn và xây dựng một cách vị ngã không phải là "thực ngã"; một cách tối hậu và tuyệt đối cái tôi đó không phải là Như Lai Tánh của chúng ta.

    Vậy thì cái "Thực Tánh Nguyên Ủy", "Ainsi-té", "Ipséité" (Cái "thực tại tự thân" tuyệt đối của chúng ta) là gì?

    Ðó chính là Tối Hậu, vì Tối hậu là Thực Tánh Nguyên Ủy và Tối Hậu của chúng ta; Tối Hậu là Thực Tánh của chúng ta: không thể có việc "chứng ngộ" thực sự, không thể có việc "Ðạt Ðạo" thực sự nếu không quy về Tối Hậu, nếu không có đẳng thức Tối Hậu chính là Dharma.

    Thực Ngã chúng ta chính là Tối Hậu, đó chính là Thực Tánh của chúng ta. Cái "ngã nhỏ bé" cá biệt và thường nghiệm của chúng ta là cái ngã nhỏ bé lúc khởi thủy đã che khuất mắt ta với chân trời Tối Hậu mà thực ra đã nằm sẵn tận tâm ta, trong Thực Tánh của chúng ta mà chúng ta chưa đủ năng lực nhận chân ra.

    Cái "ngã" nhỏ bé không phải là thực đó cần phải được "tống khứ đi", "thanh toán đi". "Thực Ngã", Thực Tánh, Nguyên Tánh, Bản Tánh của Dharma... đó là ngôn ngữ Phật Giáo Ðại Thừa.



    Ðạt đến Dharma Tối Hậu - Ðạt đến Phra Chao

    Ðối với phật tử và kitô hữu, con đường để "đạt đạo", để "đắc đạo", để "chứng ngộ" nầy là từ bỏ ngã: "Các con hãy từ bỏ chính mình!". Kitô hữu "từ bỏ" cái "Tôi" của mình cho Thiên Chúa. Phật tử cố gắng làm thế nào để chứng ngộ trong mức độ khả năng của mình để cái "Tôi" vị ngã không còn nữa, nghĩa là mất hẳn chổ tựa.

    Ðó là những phần vụ khác nhau của cùng một hành vi tiến tới chung trong mục tiêu "chấm dứt" "cuộc đời khổ não này". Kitô hữu coi điều đó như là ân sủng của Thiên Chúa. Phật tử chúng ta nói rằng điều đó có được là do chúng ta thực hành "diệt ngã", thực hành "xả", vận dụng tri thức, thấy rõ thực tánh vạn pháp trong hiện tánh của chúng, biết ý thức rằng vạn pháp - kể cả chúng ta - là tương đối, lệ thuộc và hữu hạn. Bấy giờ chúng ta sẽ hiểu được sự xác thực của hành vi "thực nghiệm" vô ngã và thấy được điều tối hậu chân thực.

    Một linh đạo có cách thức riêng của mình. Cốt lỏi của thái độ tâm linh có thể rất gần nhau. Trong việc "buông xả" ngã riêng rẽ của chính mình, chúng ta có thể thấy được đặc tính chung của thái độ tâm linh kiểu mẫu qua mọi Con Ðường Giải Thoát. Ðối với người nầy điều đó gọi là từ bỏ mình vì Thiên Chúa; đối với kẻ khác, tuy không dùng ngôn ngữ nầy, nhưng vẫn có thể am tường ý nghĩa đó trong cách thế phát biểu theo Dharma, thì gọi là Anattà. Khi đã hiểu rõ được ý nghĩa sâu xa cốt lõi của sự sống chúng ta, qua đó chúng ta có thể cùng nhận ra nhau thì còn điều gì có thể ngăn cản được mối tình huynh đệ tâm linh của chúng ta?

    Tất cả mọi khác biệt mà người ta có thể liệt kê ra như phong tục, giáo quy, nghi lễ, và ngay cả tín điều từ nay không nên ngăn cản chúng ta nhận rõ mối đồng quy tâm linh của chúng ta.

    Cũng giống như bốn kẻ lữ hành phát xuất từ bốn chân trời khác biệt, để gặp nhau từ những hành trình xem ra không thể hòa giải được, đã hành động trái ngược nhau, nhưng thực sự lại đồng quy; tất cả chúng ta phải nhận rõ và tôn trọng những khác biệt của nhau. Những khác biệt này phát xuất phần lớn từ những khoảng cách văn hóa nữa. Nếu chúng ta coi đó như là những yếu tố cấu tạo nên bản sắc chúng ta thì những khác biệt đó lại không thể không phong phú hóa cho nhau được sao?

    Ðiểm hội tụ đó, kitô hữu gọi là "Nước Chúa", chúng ta gọi là Niết Bàn, hoặc là Dharma Tối Hậu. Cho dù mang nhiều tên gọi khác nhau, Chân Lý Tối Hậu vẫn vượt lên những khó khăn trong việc hòa hợp các cách xưng hô đó.



    Cách xếp loại theo truyền thống các Con Ðường Giải Thoát

    - Những tôn giáo Minh Triết tìm sự Giải Thoát bằng con đường tri thức, bằng trí huệ về toàn cảnh thân phận con người trong vũ trụ trong tương quan với Tối Hậu, nhận chân ra và loại bỏ những chướng ngại nội tâm cho việc Giải Thoát.

    - Những tôn giáo Khổ Hạnh tìm kiếm con đường Giải Thoát trong năng lực chịu đựng hoặc tập trung tâm sinh lý hoặc tinh thần

    - Những tôn giáo Phú Thác và Tin Tưởng vào quyền năng và lòng nhân hậu của Thượng Ðế, chấp nhận một cách tin tưởng những thử thách cuộc đời như là do Thượng Ðế gởi đến, và tin tưởng cuối cùng sẽ đạt đến Toàn Phúc trong mối hiệp thông với Thượng Ðế.

    Panna, Viriya, Bhakti (Minh Triết, Khổ Hạnh và Ðức Tin) là tên gọi của ba Con Ðường. Mỗi truyền thống tâm linh đã chọn hành trình cho mình tùy theo những ưu tiên và chọn lựa của vị sáng lập. Theo Con Ðường này không có nghĩa là chống đối giá trị của những Con Ðường khác. Cả ba Con Ðường đều được coi là chính đáng như nhau. Giải Thoát Tối Hậu chỉ có thể là duy nhất mà thôi.

    Thụ bẩm bởi sinh thành hoặc do những hoàn cảnh khác nhau, thường là ngẫu nhiên, chúng ta ở vào một trong những Con Ðường đó và Con Ðường đó uốn nắn cuộc sống tâm linh chúng ta.

    Có người đã từng nuôi ước mơ về một tôn giáo cho toàn thể nhân loại. Tuy nhiên những tôn giáo đa biệt lại sẽ thực sự cần thiết cho những nền văn hoá khác nhau đến mức độ nào? Xét trên bình diện văn hóa, Phải chăng có những trường hợp cải giáo hoặc thay đổi đạo lại không nên được khuyến khích?

    Hỡi kitô hữu và phật tử, trước tiên các bạn hãy thực sự là kitô hữu và thực sự là phật tử đã.
    theo dunglac.net
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?