Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Tuesday, October 25, 2005

HÔM NAY NGƯờI GIÁO DÂN MUốN NGHE GIảNG THế NÀO.(chungnhanduckito)

Nhân Bài CHA GIẢNG HAY, CHA GIẢNG DỞ của Lm. Giuse Maria Nhân Tài, csjb. trên VietCatholic News ngày 14/09/2000, và Bài Giảng cho người thời nay của L.m. An-rê Đỗ xuân Quế o.p. trên VietCatholic News ngày 24/09/2005.

Chúng tôi không đề cập những vấn đề kỹ thuật cho một bài giảng như LM Đỗ Xuân Quế phân tích, hay khía cạnh chú trọng nhiều về người nghe hơn người giảng của LM Nhân Tài, một phần dựa trên kinh nghiệm và những bài học về giáo huấn giảng thuyết trong chủng viện, hay theo kinh điển. Thiết tưởng chúng tôi chỉ nghĩ tới khía cạnh có người giảng thì có người nghe, và để cho người ta nghe được. Chúng tôi muốn phản ảnh những ước vọng và cảm nghĩ thiết thực của người nghe, ít là theo ước vọng và suy tư cá nhân, nếu không tiêu biểu cho một tập thể giáo dân cụ thể, như sau.

I. Từ bố cục bài viết cô đọng của người giảng viết

(1) CHA GIẢNG HAY, CHA GIẢNG DỞ Lm Giuse Maria Nhân Tài csjb

Không rõ bố cục

(2) Giảng cho người thời nay Lm Anrê Đỗ Xuân Quế OP

Bố Cục

1. Những khó khăn

1,1 Khó hiểu và đòi hỏi

1,2 Trừu tượng

2. Những trở ngại trong việc phục vụ và lắng nghe lời Chúa

2,1 Trở ngại trong việc phục vụ

2,1,1 Người ta không muốn nghe

2,1,3 Nội dung trừu tượng khó hiểu

2.2 Những trở ngại trong việc đón nghe

2,2,2 Giảng dài, lối giảng quá quen

2,2,4 Thiếu người thích nghe

2,2,5 Tình trạng phân tán

II. Đến Những Thao Thức Thực Tế Của Người Nghe Đọc

Là giáo dân, chúng tôi nghe nhiều lần các linh mục giảng trong các thánh đường và những buổi sinh hoạt hội họp của các đoàn thể, nhưng có lẽ ít khi chúng tôi nói đến hôm nay chúng tôi muốn nghe giảng các linh mục như thế nào.

Nói Gì, Nghe Gì:

Đương nhiên ai cũng hiểu là nghe giảng, nhưng thực sự nghe gì. Không khó cho câu trả lời này. Nghe giảng Tin Mừng. Nhưng là thứ Tin Mừng được diễn đạt và thể hiện thông qua người giảng và được người nghe đón nhận trong hoàn cảnh cụ thể. Đó là những vấn đề nảy sinh ra trong thực tế cuộc sống hằng ngày trước hết của cá nhân, gia đình hay một cộng đồng xứ đạo, rồi mới tới những vấn đề chung trong giáo hội, nhất là những vấn đề mới có tính cách thời sự tác động đến giáo hội.

Bài giảng đó nên đề cập việc áp dụng Tin Mừng thế nào vào hoàn cảnh các biến cố của từng nơi chốn, thời gian và người nghe và muốn nghe. Không thể có bài giảng như “vịt nghe sấm” mà thiếu ăn nhằm vào đời sống thực tế. Những mưu tính, những cách hành xử thực tế của các quan hệ cha xứ với giáo dân, cha xứ với HDMV, cha xứ với từng người, từng gia đình, từng cộng đồng.

Chẳng hạn, trong muôn vàn cách sống, thể hiện sinh hoạt mục vụ ở trong xứ đạo, các cộng đoàn rất cần chú trọng tới những loại giao tế có tính ràng buộc kiểu có đi có lại giữa cha xứ với từng lớp người, giữa đoàn thể này với đoàn thể kia trong xứ, kiểu “hòn đất ném đi hòn chì ném lại”, hơn là những quan hệ trong sáng trong giao tế nhân bản tự nhiên. Người đạo đức quí trọng cha xứ vì tư cách đạo đức nghiêm túc chứ không phải vì muốn lợi dụng cha xứ một việc gì, thì bề ngoài muốn nâng đỡ ủng hộ ngài để trục lơi.

Nói cách khác các quan hệ cần trong sáng. Cha xứ cư sử nhờ vả giáo dân điều gì, rôi giáo dân đáp ứng lại như một cử chỉ bác ái tương trợ, chứ không thể như một cách mua chuộc sự ủng hộ đối với cha xứ, tạo nên một sự mất đoàn kết, kết thân với loại người này mà xem thường những loại người khác. Nói cách khác cha xứ phải là của mọi người một cách công minh, các chức vụ trong xứ đạo không được cắt đặt vì cảm tình riêng tư mà không vì những tiếu chuẩn thanh cao của Tin Mừng, tức là nhiệt tình và khả năng cùng hoàn cảnh dấn thân của mỗi người. Mọi cách ứng xử của cha xứ nên diễn ra một cách vô tư, vô điều kiện, mà chỉ vì Tin Mừng và lợi ích tối ưu của cộng đoàn.

Giảng lời Chúa cho nên không thể dùng Tòa Giảng để tục hóa Lời Chúa, bằng những cách nói thể hiện lòng thiếu tôn trọng người nghe, như thiếu cầu nguyện và chuẩn bị bài mình sẽ giảng, nhất là những lời nói xiên xéo, ám chỉ một cá nhân nào đó mà mình không bằng lòng, vì bất kỳ lý do gì. Vì chính cách bộc lộ lời nói đó như thế, thường trong tâm trạng bất an, thì đã thiếu bác ái và khiêm tốn theo Tôn Chỉ Tin Mừng!

III. Lời Giảng Tin Mừng Hay Nhất.

Lời giảng bắt nguồn từ chiêm niệm học hỏi và thể hiện Tin Mừng trong cuộc sống hằng ngày của người giảng. Như Đức Mẹ “omnia conservabat in corde suo”! Tin Mừng nói đến hạt lúa gieo trong các loại đất sỏi đất tốt, không phải chỉ về khía cạnh người nghe, mà cả người giảng, tức là người có sứ vụ ban phát chia sẻ Lời Chúa làm của ăn tinh thần. Tâm hồn người giảng không sống đúng mọi chiều kích thâm sâu tế nhị Lời Chúa, thì chắc chắn bài giảng tẻ nhạt khô khan vì không đánh động lòng người, dù có trích cú tầm chương đến đâu, có khẩu khí hùng biện đến đâu. Đó là một bài giảng cưỡng ép, vô hồn, vô cảm, không có sức mạnh thuyết phục. Trái lại người giảng đã chiêm niệm và sống thực những lời mình giảng thế nào cho đời mình, thì sẽ biết phải giảng gì và giảng thế nào để áp dụng vào thực tế cuộc sống cho người nghe, và do đó lời chia sẻ ấy, giảng giải ấy mới có hồn để lay động người nghe. Khi người giảng có Lời Chúa trong tâm hồn và đời sống của mình thì Chúa Thánh Thần mới thực sự tác động và soi sáng hướng dẫn người nghe. Người cần nghe, mà không muốn nghe, thí chính người giảng phải tự xét mình đã sống Lời Chúa thực tế thế nào trong đời thường! Đời sống sẽ thuyết phục người nghe hơn lời giảng xuông! Chính Đời sống thể hiện dẫn dắt đức tin sẽ hậu thuẫn mạnh mẽ sức cảm hóa của lời giảng! Kinh nghiệm ở Giáo Hội Hoa Kỳ hiện nay là một thí dụ.

Giảng Lời Chúa không thể chỉ như giảng bài, mà giảng bằng chính cảm nghiệm cuộc sống và trong đó có sự trân trọng cách nào đó đối với người nghe, dù người nghe đó có trình độ học vấn và văn hóa đến đâu. Chúa nhập thể với từng hạng người, kể cả và nhất là người tội lỗi, người thấp hèn, người bị loại ra khỏi xã hội. Không thể ban phát lời Chúa mà chính người giảng chưa được học hỏi nghiêm túc và chín chắn lời Chúa và nhất là áp dụng lời Chúa cho chính mình trong từng hoàn cảnh của cuộc sống.

Người giảng nên khiêm tốn chấp nhận phê phán nhận xét của người nghe. Một bài giảng đánh động và có tác dụng nhất chắc chắn phải có người nhận định về bài giảng đó. Điều đó chỉ chứng tỏ có người nghe, không phải để vạch là tìm sâu, nhưng để học hỏi và đã có phản ứng tích cực. Lời Chúa đã bắt đầu được gieo vào trong thửa đất tốt. Không nên bao giờ hỏi ai về bài giảng có “hay” không, vì trước mặt mình thường ai cũng khen một bài giảng là “hay”, và điều đó cũng chứng tỏ là người giảng còn quá chú trọng đến “cái tôi” của mình. Hãy để mỗi người bày tỏ cảm tưởng một cách nghiêm túc và trong một hoàn cảnh xây dựng, thánh thiện. Một bài giảng hay hay dở tùy theo lời giảng đó qui chiếu thể hiện vào trong cuộc sống của người giảng và có tác dụng tích cực đối với người khác theo chiều hướng thượng. Khi có một khía cạnh không hay của bài giảng, thì đấy là một cơ hội tự xét mình xem chính bản thân người giảng đã sống điều mình giảng thế nào. Ta thường có thói quen nói về người khác mà quên không nghĩ đến chính mình. Đừng dễ dãi phê phán người khác là không muốn nghe cho bằng người giảng có đáng nghe không về tác phong đạo đức và đề tài giảng có gắn bó vào cuộc sống thực tế của mình và của cộng đoàn không.

Một bài giảng nào không có người nhận xét, dù hay hay dở, ở những điểm nào, là một bài giảng thường không được lắng nghe và cần suy nghĩ về các nguyên nhân thực sự của tình trạng và chất lượng bài giảng đó qui chiếu cuộc sống đời thường.

Điều đáng mừng là có những vị Linh Mục đã đề cập vấn đề này một cách công khai. Có thể đấy là một dấu chỉ tích cực để tiến lên trong tác phong ứng xử sống đạo theo chiều hướng Vatican II cách nay chung quanh nửa thế kỷ!

Dayton, OH, 25/9/2005.X. Đỗ Hữu Nghiêm
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • CHUỖI MÂN CÔI VÀ ĐỜI LINH MỤC (chungnhanduckito)

    Kinh Mân Côi là lời kinh hiệu nghiệm để xin ơn, lời kinh do chính Đức Maria soi sáng thiết lập trong Giáo Hội. Đó là lời kinh được nhiều thánh nhân, nhiều nhà giảng thuyết, nhiều vị thừa sai, nhiều dòng tu tận tình truyền bá. Đó cũng là lời kinh được Công đồng Vatican II giới thiệu, nhiều vị giáo hoàng thời danh tán dương, cổ võ…

    Đối với người linh mục, cùng với nhiều việc đạo đức, nhiều phương thức khác nhau để thánh hóa và tự thánh hóa mình, kinh Mân Côi góp phần nuôi sống chính đời sống linh mục. Vì thế, các linh mục đừng chỉ dừng lại ở phương diện rao giảng về kinh Mân Côi, mời gọi mọi người hãy tìm đến kho tàng ơn Chúa nhờ suy niệm kinh Mân Côi, như lời “đầu môi chót lưỡi”, mà hãy là người chiêm ngắm và sống mầu nhiệm Mân Côi trước hết và trên hết anh chị em mình.

    I. CHUỖI MÂN CÔI TRONG TƯƠNG QUAN VỚI TIN MỪNG.

    Với những mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng mà mỗi khi ta chiêm ngắm, là chiêm ngắm chính cuộc đời của Chúa Kitô. Bởi thế, kinh Mân Côi cũng là quyển Tin Mừng rút gọn. Quyển Tin Mừng ấy tuy rất đơn giản, nhưng cũng rất phong phú, vì nơi đó, khi chiêm ngắm, ta bước theo Chúa Kitô từ khi Người nhập thể làm người, ra đi loan báo Tin Mừng trên mọi nẻo đường Palestina, đến hành trình đớn đau và khổ nhục tiến lên đỉnh đồi Calvariô, chịu đóng đinh, chịu chết và phục sinh vinh hiển mở ra con đường sự sống mới cho nhân loại.

    Mầu nhiệm mùa vui diễn tả về một Thiên Chúa làm người, để con người được làm con Thiên Chúa. Đi xa hơn, mùa Vui còn khẳng định cho chúng ta về một “Thiên Chúa yêu thế gian, đến nỗi đã ban Con Một, để ai tin vào Con của Người thì khỏi phải chết nhưng được sống muôn đời” (Ga 3, 16).

    Thiên Chúa đã làm người: một chân lý quá tuyệt diệu, quá lớn lao vượt ra ngoài sức tưởng tượng của loài người. Bởi không thể hiểu nổi, khi Chúa Kitô xuất hiện, đã làm loài người ngỡ ngàng, không thể tin Đấng Mêssia mà họ hằng mong chờ, nay lại cư ngụ giữa họ! Bởi thế, nhiều người đã không chấp nhận và không tin vào Chúa Kitô.

    Mầu nhiệm sự Sáng diễng tả cuộc đời công khái của Chúa Kitô cùng những bước chân ra đi không mệt mỏi trên con đường loan báo Tin Mừng.

    Sau nhiều năm sống ẩn dật, thời gian cần thiết chuẩn bị cho sứ vụ mà Thiên Chúa trao phó, Người loan báo ơn cứu độ đã đến bằng Lời rao giảng, bằng cuộc sống chứng tá, bằng những phép lạ Người đã thực hiện để dạy loài người về một Thiên Chúa yêu thương đến độ hạ mình phục vụ họ: “Ta đến không phải để được phục vụ, nhưng là phục vụ và hiến mạng sống cho loài người” (Mt 20, 28).

    Mầu nhiệm mùa Thương diễn tả những giờ phút đau thương và tủi nhục của Chúa Kitô. Đó cũng là những giờ phút đấu tranh tư tưởng kịch liệt, bởi sự giằng co nội tâm khi đối diện với cuộc khổ nạn mà Người sắp đón nhận: “Lạy Cha, xin cho Con đừng uống chén này, nhưng xin đừng theo ý Con mà theo ý Cha” (Mt 26, 39).

    Chúa Kitô đã chấp nhận và đi đến tận cùng con đường thập giá. Bởi đó là con đường duy nhất nối lại mối tương giao giữa nhân loại với Thiên Chúa, giữa Đấng Tạo dựng và loài thụ tạo. Ngày xưa, Ađam đã phá vỡ mối tương giao ấy bởi sự không vâng phục, thì nay, qua cái chết của Chúa Kitô – Ađam mới, đã hàn gắn lại, để con người được hiệp thông mật thiết với Thiên Chúa, sống trong tương giao tình yêu của Người.

    Mầu nhiệm mùa Mừng diễn tả niềm vui khôn cùng của nhân loại một khi vững tin vào Chúa Kitô phục sinh. Cuộc phục sinh khải hoàn ấy mở ra một viễn tượng mới: cái chết sau cuộc sống trần thế này, không là một dấu chấm hết, nhưng là bệ phóng đưa ta vào vĩnh cửu, sống trong sự sống tràn đầy ánh sáng vinh quang mà Chúa Phục Sinh trao ban. Chẳng những không hữu hạn, sự sống ấy còn có chính Thiên Chúa, Nguồng Hạnh Phúc trở nên niềm hạnh phúc tuyệt đối của loài người.

    Xuyên suốt những mầu nhiệm Mân Côi đầy ánh sáng Tin Mừng ấy, ta thấy ẩn chứa dáng dấp một người phụ nữ cùng song hành với Chúa Kitô trong hành trình cứu thế của Người. Người phụ nữ ấy chính là Đức Maria, Người Nữ Tỳ và Người Nghèo của Thiên Chúa. Dù hai tiếng “Xin Vâng” Mẹ thốt lên trước mặt thiên thần, đã chấm dứt trong ngày truyền tin, nhưng cuộc sống Xin Vâng thì không dừng lại, lại trải dài suốt cuộc đời làm Mẹ Đấng Cứu Thế của Mẹ.

    Đi bên cạnh Con mình để sống một đời Xin Vâng, Mẹ trở nên một người mẹ thầm lặng luôn suy đi nghĩ lại mọi biến cố xảy đến cho mình (Lc 2, 51). Và nếu những giai đoạn cứu thế của Chúa Kitô ngày càng rõ nét theo tuổi đời của Người, thì tiếng Xin Vâng của Mẹ càng sáng hơn, càng quyết liệt dần lên xa hơn.

    Chẳng hạn, Mẹ đã thinh lặng chấp nhận nghe Con thông báo phải “làm việc của Cha Con” sau khi vất vả đến ba ngày tìm Con thất lạc (Lc 2, 46-50). Mẹ lại Xin Vâng khi dõi bước theo Con trên đường rao giảng. Đến khi kết thúc những tháng năm rao giảng của Con, Mẹ lại tiếp tục dõi theo từng chặng đường thánh giá nghiệt ngã, rồi đau đớn chứng kiến những tũi nhục, roi đòn, lời sỉ vả… mà loài người đan tâm trút lên Người Con của mình. Mẹ đã Xin Vâng trong chết lặng nát tan cõi lòng khi chứng kiến đến giây phúc sau cùng của Con trên thánh giá.

    Nhưng nếu đã gắn bó với Con bao nhiêu trong đau đớn, thì tiếng Xin Vâng của Mẹ càng được bù đắp cân xứng bấy nhiêu trong niềm vui chan chứa của ngày Con khải hoàn phục sinh.

    Cuộc đời Xin Vâng của Đức Maria nỡ hoa rực rỡ trong niềm vui ơn cứu độ của Chúa Kitô. Đi bên cạnh Con mình, Đức Maria đã dâng hiến trọn vẹn để thực thi đến cùng lời thưa Xin Vâng.

    2. ĐỜI LINH MỤC VỚI CHUỖI MÂN CÔI.

    Nhìn lại hành trình cuộc đời của Chúa Giêsu Kitô qua bốn mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng, chúng ta cảm nhận và hình dung đó chính là cuộc đời của mỗi linh mục chúng ta. Các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng như cũng đan xen qua những biến cố thăng trầm của cuộc đời người linh mục. Hãy đem những thăng trầm đó mà tháp nhập vào cuộc đời của Chúa Kitô, để cuộc đời người linh mục được lồng trong chính cuuộc đời của Chúa Kitô.

    1. Mùa Vui của người linh mục.

    Nhiều lắm những lần chúng ta cảm nhận niềm vui trong những tháng năm sống đời tu của mình. Ngày nhận giấy đi Chủng viện chẳng hạn. Nhất là thời gian khoảng ba chục năm trở lại đây, khi mà người muốn sống ơn gọi tu trì cứ mãi bị kỳ thị, bị nghi ngờ, thậm chí bị chống đối bằng những hình thức nặng nhẹ khác nhau…, vậy mà cuối cùng vẫn giữ được ơn gọi của mình, càng làm cho những ai có tâm hồn tha thiết với ơn gọi vui mừng lớn lao. Vui như trần thế chẳng còn cái vui nào lớn hơn. Niềm vui như vỡ òa trong nước mắt hạnh phúc chảy tràn.

    Đàng khác, thực hiện được ơn gọi của riêng mình, ta cũng vui vì đó là một bước ngoặc lớn trong cuộc đời. Bởi sau bao nhiêu vất vả lo toan, sau bao nhiêu khắc khoải đợi chờ, ta bước vào môi trường mới, bước vào cuộc sống mới với tất cả những trang bị cần thiết cho lý tưởng đời mình, cho Giáo Hội của Chúa và cho cả đồng loại xung quanh nữa. Và biết nhiêu những nỗi vui mừng khác trong đời linh mục của ta. Đó chính là những mùa vui của người linh mục. Những mùa vui ấy cần thiết, để giờ đây, qua nó, ta tháp nhập vào mầu nhiệm Mân Côi trong chính cuộc đời trần thế của Chúa Kitô.

    2. Mùa sáng trong cuộc đời người linh mục.

    Những năm tháng dưới mái nhà Chủng viện lặng lẽ trôi nhanh. Rời mái trường Chủng viện, ta trở thành thầy sáu, rồi linh mục. Với vai trò mới, chúng ta đặc biệt được Giáo Hội trao cho mình nhiệm vụ quản lý và phân phát kho tàng ơn Chúa cho anh chị em. Nhờ bàn tay thi hành thánh chức của mình, người linh mục đưa dẫn anh chị em về với Thiên Chúa, về với ơn cứu độ của Người.

    Như vậy, trở thành linh mục, ta trở nên người bước tiếp con đường Thầy Giêsu đã đi, không phải những nẻo đường Palestina, nhưng là những nẻo đời giữa lòng cuộc sống. Đặc biệt, đối với các linh mục tại Việt Nam, những nẻo đời đó chính là quê hương Việt Nam của mình.

    Quê hương Việt Nam còn cần nhiều linh mục nhiệt thành để loan báo Lời Chúa, cần nhiều bước chân dám dấn thân ra đi, mang Chúa đến cho mọi người. Dọc dài của nẻo đời quê hương ấy, biết bao nhiêu người cần sự nâng đỡ, quan tâm của ta, nhất là những anh chị em bất hạnh, túng nghèo, bệnh tật, bị đẩy ra bên ngoài cuộc sống xã hội, bị khinh miệt, bị chà đạp, bị bóc lột… Chính họ là những nẻo đời của quê hương. Chính họ là hiện thân của Chúa Giêsu nghèo mà người linh mục được mời gọi chia sớt cuộc sống với họ. Chỉ nơi họ, cùng với những bổn phận mục vụ và đạo đức của mình, người linh mục mới có thể làm sáng danh Chúa.

    Và như thế, sống mầu nhiệm sự Sáng trong chức linh mục, có nghĩa là khi linh mục để cho danh Chúa được cao rao. Nếu đi ngược lại tất cả những điều đó, hình bóng linh mục giữa cộng đoàn nhân loại chỉ là một phản chứng, một bóng đen, tệ hơn: đó chỉ là một cách giết chết ơn gọi linh mục của chính bản thân người linh mục. Bởi vậy anh em linh mục đừng là sự tối, nhưng hãy là sự Sáng.

    3. Mùa Thương thăng trầm của đời linh mục.

    Không thiếu những lần bị hiểu lầm, bị chống đối từ nhiều phía, nhiều cách thức của nhiều người dành cho người linh mục. Một mình đối mặt tất cả những hoàn cảnh ấy, dễ làm người linh mục mệt mỏi, có khi thất vọng, muốn buông xuôi tất cả, mặc cho dòng đời đưa đẩy, muốn ra sao thì ra…

    Nhìn lên Chúa Kitô trên thánh giá là cách tốt nhất để người linh mục khiêm nhường nhận ra căn tín linh mục của mình: Chúa Kitô, linh mục thượng phẩm, cũng chính là Chúa Kitô của thánh giá. Nhìn lên thánh giá, người linh mục sẽ hiểu rằng: “Tôi tớ không hơn chủ, trò không hơn Thầy” (Mt 10, 24; Lc 6, 40). Con đường mà Thầy Giêsu đã đi là con đường thập giá. Bởi chỉ có con đường ấy mới mang lại hoa trái của ơn giải thoát và cứu độ. Chính Chúa Kitô là bài học kinh nghiệm cho từng anh em linh mục, giúp sống đời hiến dâng trong chức linh mục của chính mình.

    Ngoài Chúa Kitô, trong khi suy niệm mầu nhiệm Mân Côi, ta lại bắt gặp một khuôn mặt khả ái khác, cũng tràn đầy đắng cay, nhưng lại sáng ngời trong niềm phó thác. Khuôn mặt đó chính là Đức Maria, người Mẹ và Bà Chúa của chúng ta trong đức tin vĩ đại. Bởi vậy, khi phải chịu những bất trắc, những nỗi đau canh cánh bên lòng, người linh mục đừng sờn lòng nản chí, nhưng hãy tin tưởng và phó thác như chính Đức Maria đã tin tưởng và phó thác qua hai tiếng Xin Vâng trọn cuộc đời của mình.

    4. Mùa Mừng trong cuộc sống linh mục.

    Ngày chúng ta chịu chức linh mục, nhiều người cho rằng, cuộc đời linh mục là một màu hồng xuyên suốt. Thực tình không sai. Bởi tiếp theo sau lễ phong chức là những ngày tạ ơn khắp nơi (có người còn gọi đó là lễ Vinh quy), những lời chúc mừng, những bữa tiệc linh đình… Thế rồi mừng vui nối tiếp mừng vui: nào là ngày mừng bổn mạng, ngày kỷ niệm chịu chức, ngày ngân khánh, kim khánh… Kèm theo đó là biết bao nhiêu lời chúc tụng, biết bao nhiêu món quà được biếu tặng… Đã có lúc chúng ta tự kiêu, tự mãn vì những hình thức bên ngoài ấy. Ngay cả sau khi làm được công trình vật chất nào đó, cũng khiến ta tự vui mừng, nếu không muốn nói là kiêu ngạo với cái mà mọi người gọi là “thành công” ấy. Ở nhà xứ, chúng ta tự coi mình là trung tâm của vũ trụ, tự mình quyết định tất cả. Và dù không nói ra, nhưng cũng ngầm đồng tình với vài ý kiến cho rằng “ý cha là ý Chúa”…

    Người giáo dân có suy nghĩ gì khi họ hiểu được, ẩn giấu đàng sau cái phục vụ Thiên Chúa, phục vụ Giáo Hội, lại ngấm ngầm hàm chứa niềm vui tự phục vụ quyền hạn, danh dự, sự nổi nang của chính linh mục? Không biết họ nên buồn hay nên vui, vì cha “quá tài”, “quá giỏi” “đáng lừa” mọi người hết sức khéo léo bằng mọi thứ che đậy, xem ra sự che đậy nào cũng hợp lý, cũng đẹp? Càng mỉa mai hơn, đau xót hơn, khi tất cả những điều đó được che đậy thật hoàn hảo dưới lớp áo được gọi là “linh mục của Chúa Kitô”.

    Chúng ta, những linh mục chỉ có thể trở nên linh mục đích thật của Chúa Kitô, khi biết sống đúng ý nghĩa của mầu nhiệm mùa Mừng là hiểu thấu đáo và cố gắng hết sức để sống chính lời Chúa Kitô: “Thầy đến không phải để được phục vụ, nhưng là phục vụ và hiến mạng sống cho loài người” (Mt 20, 28).

    Anh em linh mục, chúng ta có bị đánh động, có thực sự thao thức, hay trăn trở về tất cả những điều mà mình vừa suy niệm? Chẳng thể nhớ nổi, bao nhiêu lần trong cuộc đời, mình lần chuỗi Mân Côi, nhưng đã có bao giờ, ta sống trọn vẹn mầu nhiệm Mân Côi, và hướng về Chúa thực sự và thật nghiêm túc, để nên giống Chúa như Đức Maria và như Chúa muốn?

    III. LỜI KẾT.

    Đời sống con người là một cuộc lữ hành tìm về hạnh phúc. Cuộc lữ hành này không thể thực hiện bằng những bước chân, hoặc bằng những phương tiện duy chuyển, nhưng chỉ có thể thực hiện bằng những hành vi nhân linh, nghĩa là những hành vi có ý thức tự do và chọn lựa.

    Là người phàm trần, bị tội lỗi đả thương nặng nề, lại bị những vật hữu hình quyến rũ một cách mãnh liệt. Vậy làm sao ta có thể thực hiện cuộc hành trình này cho an toàn?

    Thấy rõ sự yếu đuối của ta, Ngôi Lời đã nhập thể nên người đồng hành và hướng đạo chúng ta. Ta chỉ có thể tìm được an toàn thực sự cho hành trình đời mình, khi dám cúi xuống để sống khiêm hạ và đón nhận mọi thánh ý Thiên Chúa như chính Ngôi lời đã sống và nêu gương cho ta.

    Ngôi Lời đã nhập thể, trở thành người lữ khách kỳ diệu, gồm thâu trong mình một cách khôn tả cả cái nhân loại, lẫn cái thần linh; cả những biến cố lịch sử và những thực tại vĩnh cửu, những bối cảnh thực tại và những mầu nhiệm, những vui sướng thật trinh trong và những đau thương thật thấm thía.

    Càng kỳ diệu hơn, khi khuôn mặt của Đức Maria cứ luôn luôn được nhận ra trong mọi biến cố của Ngôi Lời. Hình như Thiên Chúa đã tiên liệu để mọi mầu nhiệm trong cuộc đời của Người Con đều cần đến sự thông hiệp chặt chẽ của Người Mẹ. Vì thế, các mầu nhiệm của Thiên Chúa được diễn tiến nơi Chúa Kitô, đều mang hình dạng một chặng đường Thiên Chúa đã dự kiến đầy ý nghĩa trước hết cho Đức Mẹ, để rồi qua hình ảnh Đức Mẹ, như một sự báo trước và đại diện, những mầu nhiệm ấy cũng dành cho mọi người chúng ta.

    Vì thế, nếu hành trình của Chúa Kitô luôn có người Mẹ hiền của Người là Đức Maria đồng hành, ước mong hành trình nơi mỗi Kitô hữu, đặc biệt là nơi các linh mục của Chúa Kitô, cũng sẽ là hành trình gắn bó với Đức Maria. Vì nếu có Đức Mẹ cùng mang vác trách nhiệm “làm linh mục cho anh chị em” (thánh Augustinô), chúng ta sẽ can đảm hơn, đỡ mệt mỏi hơn vì sẽ cảm thấy mình được nâng đỡ hơn. Nguồn nâng đỡ đó lại chính là lời cầu bàu của Mẹ Thiên Chúa, lại không giúp ta yên tâm và bình an lắm hay sao.

    Bởi đó, chuỗi Mân Côi là một trong nhiều phương thế cầu nguyện tốt để ta được gần bên Người Mẹ kính yêu của mình, giúp ta khám phá ngày càng mãnh liệt vai trò của Đức Maria trong mầu nhiệm cứu độ cao cả và trong cuộc đời ta. Để nơi mầu nhiệm cứu độ, cùng với Mẹ, ta trưởng thành trong ơn Chúa. Và nơi cuộc đời trần thế, mọi nơi, mọi lúc, nhất là những khi đối diện với những hoàn cảnh khó khăn, lắm lúc nghiệt ngã, ta có Mẹ đồng hành và ủi an.

    Nguyện xin cho cuộc đời linh mục của mỗi anh em chúng ta, trước là được tháp nhập vào chính cuộc đời của Chúa Kitô, để qua Người, ta học và hiểu các mầu nhiệm Vui, Sáng, Thương, Mừng như một bài học không thể thiếu trong từng ngày sống, hoạt động và phục vụ của mình. Sau nữa, là gắn bó không ngừng với Mẹ Chúa Kitô, để cùng với Mẹ, như Mẹ và trong Mẹ, ta biết tin tưởng, phó thác, và làm hoàn hảo mầu nhiệm thánh giá của Chúa Kitô nơi chính tâm hồn và cuộc đời linh mục của mình.

    Lm. VŨ XUÂN HẠNH

    (Trích tờ thông tin “Tĩnh tâm linh mục quý IV – 4.10.2005” của giáo phận Phú Cường)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Wednesday, October 19, 2005

    NHỮNG ANH HÙNG CỨU ÐỘ......Cha Mark Link, S.J.


    Cách đây nhiều năm các rạp hát có chiếu một cuốn phim nhan đề Little Lord Fauntlroy (Tiểu chủ Fannilleroy) nói về một cậu bé 7 tuổi đến sống với ông nội là một người giàu có đang quản lý nhiều công nhân dưới quyền. Ông lão bản chất là con người ích kỷ và độc ác, nhưng cậu nhỏ quá thần tượng ông mình, nên không thể nhận ra điều đó. Cậu lại nghĩ ông mình quảng đại và tốt bụng. Cậu bé thường nói với người ông: "Nội ơi! Thiên hạ chắc hẳn yêu ông biết dường nào! Cháu dám cá là họ yêu nội hầu như cũng nhiều bằng cháu yêu nội vậy !".

    Ðể rút ngắn câu chuyện, tình yêu của cậu bé dần dà làm mềm mại trái tim ông già, và ông đã trở nên loại người tốt mà đứa cháu vẫn nghĩ cho ông.

    Câu chuyện này giống như một dụ ngôn của Chúa Giêsu cho thấy tình yêu Ngài dành cho chúng ta có thể thay đổi chúng ta và ban cho chúng ta sức mạnh để trở nên loại người giầu yêu thương như Ngài vẫn thấy nơi tiềm năng chúng ta.

    Tình yêu nằm nơi trọng tâm lời dạy và cuộc đời Chúa Giêsu. Và trong tất cả hành vi của Chúa Giêsu, không hành vi nào biểu lộ tình yêu Ngài rõ rệt hơn việc Ngài bị đóng đinh trên thập tự.

    Và điều gì khiến cho việc chịu đóng đinh thập tự là bằng chứng hùng hồn về tình yêu của Chúa Giêsu như thế?

    Trước hết, việc chịu đóng đinh thập tự là DẤU CHỈ gây ấn tượng sâu sắc về tình yêu vĩ đại Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúa Giêsu đã nói: "Không tình yêu nào cao cả hơn tình yêu của người hiến mạng sống vì bạn hữu mình" (Ga 15 : 13). Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã ban cho chúng ta dấu chỉ vĩ đại ấy, chúng ta cần biết rằng mình đáng yêu vì nếu chúng ta không thấy mình đáng yêu, chúng ta không thể yêu mến kẻ khác được. Tại sao chúng ta không thể yêu nếu không thấy mình đáng yêu? Lý do đơn giản: Tình yêu là một món quà tự hiến. Và nếu chúng ta không thấy mình là đáng yêu và vì thế đáng giá, thì chúng ta sẽ không trao tặng chính mình cho kẻ khác đựơc. Nói tóm lại, chẳng ai đem đồ rác rưởi cho kẻ mình khâm phục sâu xa. Vì thế điều đầu tiên mà sự đóng đinh thập giá đem lại chính là dấu chỉ tình yêu mà Chúa Giêsu dành cho chúng ta. Chúng ta đáng giá và đáng yêu đến mức Ðức Giêsu tự hiến mạng vì chúng ta.

    Thứ đến, bên cạnh dấu hiệu của tình yêu, việc chịu đóng đinh cũng là lời mời gọi đến với tình yêu. Ðây là một cách diễn tả bằng hình ảnh điều mà Chúa Giêsu đã thường dùng ngôn từ để nói: "Các con hãy thương yêu nhau như Ta đã yêu thương các con"(Ga.15, 12).

    Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã mời gọi chúng ta như thế chứng tỏ Ngài nghĩ rằng tình yêu của chúng ta là quí giá. Ngài dạy chúng ta rằng chúng ta có thể giúp đỡ kẻ khác bằng tình yêu của mình giống như Ngài đã dùng tình yêu của Ngài để giúp đỡ chúng ta.

    Các bậc tôn sư cho chúng ta thấy rằng lòng tự trọng của tuổi trẻ sẽ tiến bộ rất nhiều khi họ khám phá ra tình yêu của họ là đáng giá. Chúng ta có thể thấy đựơc sự đổi thay sâu xa khi một sinh viên dấn thân vào một chương trình phụng sự chẳng hạn: dạy kèm thêm cho các sinh viên lớp nhỏ hơn, đọc sách cho người mù nghe, hoặc thăm viếng người già cả. Thường đây là lần đầu tiên họ khám phá ra mình có giá trị, mình có khả năng giúp đỡ tha nhân.

    Như thế, điều thứ hai mà thập giá chúng ta đem lại là lời mời gọi chúng ta yêu thương tha nhân như Chúa Giêsu đã yêu thương chúng ta. Nó giúp chúng ta khám phá được tình yêu chúng ta là đáng giá, chúng ta có thể dùng tình yêu của mình để giúp đỡ tha nhân.

    Thứ ba, ngoài dấu chỉ tình yêu chúng ta như lời mời gọi đến với tình yêu, thập giá Chúa Giêsu còn là sự mặc khải cho chúng ta về tình yêu rằng tình yêu thương kéo theo đau khổ.

    Tôi rất vui mừng vì Chúa Giêsu đã mặc khải điều ấy cho chúng ta, vì điều ấy chống lại sự dối trá đang liên tục xẩy ra hằng ngày trên màn ảnh truyền hình cho rằng người ta có thể gíup kẻ khác mà mình chẳng phải mất mát gì hết. Vị bác sĩ trên truyền hình cứu chữa bệnh nhân mà bản thân chẳng hề đau khổ gì cả. Vị luật sự trên truyền hình bảo vệ cho kẻ bị áp bức bóc lột mà bản thân ông chẳng bị đau thương gì hết. Viên sĩ quan cảnh sát cứu đứa bé bị đối xử tàn nhẫn mà chính ông không hề bị đối xử tệ như vậy bao giờ. Giáp bào sáng loáng của những anh hùng cứu độ trên truyền hình này chỉ dơ bẩn thôi chứ chẳng bao giờ bị mẻ hay bị hư. Chúa Giêsu cho chúng ta thấy yêu thương và giúp đỡ kẻ khác bao giờ cũng kéo theo đau khổ cho chính mình.

    Không đau khổ sao được khi phải nhẫn nại với một kẻ thân yêu quát mắng chúng ta.

    Không đau khổ sao được khi phải thứ tha giống như ông bố của đứa con hoang đàng và phải đón đứa con ương ngạnh trở về nhà.

    Không đau sao được khi phải khiêm tốn nhìn nhận giống cậu con trai hoang trong câu chuyện ấy rằng mình đã sai lầm.

    Ðôi khi tôi nghĩ: nếu chúng ta có luật bắt buộc phải ghi trên bao bì những thực phẩm có hai dòng chữ: "thực phẩm này có thể hại cho sức khoẻ bạn" thì chúng ta cũng nên có luật là các chứng thư hôn thú phải được ghi thêm dòng chữ sau: "Tình yêu chắc chắn kéo theo đau khổ".

    Ðiều này dẫn chúng ta tới chủ điểm sau cùng là: chúng ta nên vui mừng khi cảm thấy đau khổ vì đã dấn thân vào tình yêu. Chúng ta nên vui mừng khi phải đau khổ với cùng một người về cùng một việc hết ngày này qua ngày nọ. Chúng ta nên vui mừng khi cảm thấy đau khổ vì bị mất đi một cơ hội để hãnh diện, hoặc mất đi một vinh dự hay một dịp thăng quan tiến chức.

    Tại sao chúng ta lại nói lên một điều khó tin như thế? Arthur Godfrey ngôi sao truyền hình trước đây có cho chúng ta lời giải thích tuyệt vời trong bài viết đăng trong cuốn "The Guideposts Treasury of Faith (1970) (Cẩm nang hướng đạo đức tin). Trên bức tường nơi văn phòng làm việc của mình, Godfrey thường treo một tấm biển ghi : "Lạy Chúa, con thà chịu lửa đốt hơn là phải làm vật phế thải".

    Godfryey nói rằng tấm biển đề nhắc ông câu chuyện về bác thợ rèn nọ, dù phải chịu nhiều tai ương mà vẫn vững tin nơi Chúa. khi một kẻ vô đạo hỏi bác ta làm thế nào bác có thể vẫn giữ niềm tin vào Chúa dù chịu biết bao tai ương, bác liền trả lời: "Khi tôi chế tạo một dụng cụ, tôi thường lấy một thanh sắt và nung lửa. Ðoạn tôi đập nó trên đe để xem nó có độ cứng không. Nếu có, tôi sẽ chế ra một dụng cụ hữu ích, nếu không tôi quẳng nó vào đống sắt vụn hết xài".

    Câu chuyện trên dẫn chúng ta trở lại chủ điểm của mình. khi chúng ta chịu đau khổ vì tình yêu, chúng ta có thể hoan hỉ vì biết rằng Chúa đang sử dụng chúng ta.

    Tóm lại, sự kiện Chúa Giêsu bị đóng đinh thập tự là Dấu chỉ Tình yêu Ngài dành cho chúng ta, là lời mời gọi chúng ta yêu mến tha nhân, đồng thời cũng là sự mặc khải về tình yêu tức là tình yêu luôn kéo theo đau khổ.

    Ðể kết thúc, chúng ta hãy cầu nguyện:

    Lạy Chúa, xin dạy chúng con yêu mến Ngài cho xứng đáng, xin dạy chúng con yêu tha nhân như Ngài yêu chúng con.
    Xin dạy chúng con yêu cho dù yêu là đau khổ,
    Bởi vì qua tình yêu chúng con tôn vinh Chúa,
    Qua tình yêu chúng con mang hạnh phúc cho tha nhân,
    Và qua tình yêu chúng con tìm đựơc ý nghĩa của cuộc sống mình.
    Amen.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, October 13, 2005

    MỘT LÁ PHIẾU

    Trước đây không lâu, bà Ann Landers có đăng một lá thư của độc giả trong mục thư tín và đã khiến nhiều người phải suy nghĩ. Lá thư ấy của một người ở Missouri báo động về tình trạng ngày càng gia tăng số người sống ở Hoa Kỳ nhưng không sử dụng quyền bỏ phiếu của mình.

    Họ bào chữa rằng, "Lá phiếu của tôi chẳng đáng kể, sao lại phải đi bầu?" Và vì những người này không muốn bỏ phiếu nên họ cũng không thực sự lưu tâm đến các vấn đề và các ứng cử viên.

    Lá thư này tiếp tục trích dẫn một bài viết trong cẩm nang bầu cử. Tựa đề của bài là "Một Lá Phiếu Quan Trọng Như Thế Nào?" Tôi xin chia sẻ một vài thí dụ về sự quan trọng của một lá phiếu trong lịch sử quốc gia chúng ta.

    Nếu không có một lá phiếu trong năm 1776, ngôn ngữ chính thức của Hiệp Chủng Quốc đã là tiếng Đức chứ không phải tiếng Anh.

    Nếu không có một lá phiếu trong năm 1845, tiểu bang Texas đã không thuộc về Hiệp Chủng Quốc.

    Nếu không có một lá phiếu trong năm 1876, Rutherford Hayes đã không đắc cử tổng thống Hoa Kỳ.

    Không cần phải nói nhiều; vấn đề thì rất rõ ràng. Khi một người sử dụng quyền bầu cử của mình, lá phiếu ấy sẽ tạo nên sự khác biệt lớn lao.

    Điều từng đúng với Hoa Kỳ thì cũng đúng với các quốc gia khác trên thế giới.

    Chỉ một lá phiếu đã giúp ông Oliver Cromwell kiểm soát toàn thể Anh Quốc năm 1645.

    Chỉ một lá phiếu đã khiến Vua Charles I của Anh Quốc bị xử tử vào năm 1649.

    Chỉ một lá phiếu đã thay đổi toàn thể nước Pháp từ chế độ quân chủ sang chế độ cộng hòa vào năm 1875.

    Vào năm 1923, Adolf Hitler trở nên lãnh tụ Đức Quốc Xã bởi một lá phiếu.

    Hãy nghĩ xem, nếu không có một lá phiếu ấy, sáu triệu người Do Thái đã không bị chết trong cuộc diệt chủng tồi tệ nhất lịch sử.

    Hãy nghĩ xem, nếu không có một lá phiếu ấy, Thế Chiến II, với tất cả những đau thương tang tóc, có lẽ đã không xảy ra.

    Không cần phải nói nhiều. Vấn đề thì hiển nhiên một cách tang thương. Có thể nói, một lá phiếu có thể thay đổi cả thế giới.

    Bài Phúc Âm hôm nay chất chứa một thông điệp quan trọng cho mỗi một Kitô Hữu.

    Chúa Giêsu đã làm sáng tỏ rằng chúng ta có hai tư cách công dân. Chúng ta là công dân của hai thế giới: công dân ở mặt đất và công dân của nước trời.

    Và vì tính cách công dân song đôi ấy, chúng ta có trách nhiệm đối với cả hai thế giới: đối với Thiên Chúa và đối với nhà cầm quyền.

    Hai trách nhiệm này như hai mặt của một đồng tiền. Thiếu chu toàn bổn phận của một công dân, có thể nói, đưa đến việc sao nhãng bổn phận của một Kitô Hữu.

    Chúng ta có trách nhiệm thật lớn lao để giúp nền hành chánh trong nước đừng rơi vào tay của các nhà lãnh đạo ích kỷ và không xứng đáng.

    Nói về trách nhiệm này, Thánh Phêrô viết trong Thư I: "Hãy vinh danh Thiên Chúa và tôn trọng vua" (1 Phêrô 2:17).

    Và tương tự Thánh Phaolô cũng viết cho tín hữu ở Rôma:

    "Mọi người phải tôn trọng nhà cầm quyền... Vậy hãy trả những gì anh chị em còn thiếu họ; hãy nộp thuế cá nhân và thuế bất động sản, và hãy tỏ lòng tôn trọng và vinh danh họ" (Rom 13:1, 7).

    Điều này đưa chúng ta đến một điểm quan trọng sau cùng. Điều gì sẽ xảy ra khi tính cách công dân song đôi khiến chúng ta ở vào tình trạng xung đột giữa Thiên Chúa và quốc gia?

    Chúng ta hy vọng là điều này sẽ không bao giờ xẩy ra. Nhưng nếu có, chúng ta phải giải quyết sự xung đột trong một phương cách mà chúng ta không thể làm thiệt hại trách nhiệm chính yếu của chúng ta đối với Thiên Chúa.

    Người tín hữu Kitô đã từng thi hành điều này trong lịch sử.

    Trong thời La Mã họ đã phải thi hành điều ấy khi hàng ngàn Kitô Hữu chấp nhận cái chết hơn là thờ cúng hoàng đế.

    Trong thế kỷ 17, họ đã thi hành điều ấy khi hàng ngàn Kitô Hữu Âu Châu phải di cư sang Hoa Kỳ để sống đức tin.

    Và trong thời đại ngày nay vẫn còn những Kitô Hữu thi hành điều ấy.

    Hãy nghĩ đến trường hợp của ông Franz Jaeggerstatter, một nông dân người Áo có ba con nhỏ.

    Trong những thập niên 1930, ông đã chống đối Hitler khi Đức Quốc Xã xâm lăng nước Áo và Hitler tổ chức một cuộc bầu cử giả mạo để chứng tỏ rằng họ đã đồng ý với hành động của Hitler. Ông Jaeggerstatter là người duy nhất trong làng chống đối Hitler.

    Và khi chiến tranh bùng nổ vào năm 1939, ông Jaeggerstatter từ chối không gia nhập đạo quân của Hitler. Ngay cả khi được cho phục vụ trong thành phần không trực tiếp chiến đấu, ông cũng từ chối.

    Sau cùng, vào ngày 2 tháng Tám 1943, ông đã bị bắt và bị xử tử.

    Ông Jaeggerstatter có hai bổn phận, một đối với Thiên Chúa và một đối với quê hương ông. Khi các bổn phận này xung đột trong lương tâm, ông đã chọn trung thành với bổn phận chính yếu: đối với Thiên Chúa.

    Và vì thế, trong Phúc Âm hôm nay, Chúa Giêsu nhắc nhở chúng ta về hai bổn phận đối với Thiên Chúa và với quê hương.

    Chúng ta hy vọng bổn phận song đôi này không bao giờ xung đột trong lương tâm của chúng ta. Nhưng nếu điều đó xảy ra, chúng ta phải giải quyết như ông Jaeggerstatter đã làm, không làm thiệt hại đến bổn phận của chúng ta đối với Thiên Chúa.

    Hãy kết thúc với lời cầu nguyện của Tổng Thống Thomas Jefferson cho quê hương chúng ta:

    Lạy Thiên Chúa toàn năng, Ngài đã ban cho chúng con phần đất này để làm di sản...
    Xin chúc lành cho quê hương chúng con...
    Xin gìn giữ chúng con khỏi những xung đột...
    và khỏi mọi phương cách xấu xa.
    Xin hãy bảo vệ sự tự do của chúng con...
    Xin ban Thần Khí khôn ngoan cho những người mà vì danh Chúa chúng con giao phó quyền cai trị cho họ...
    Khi được thịnh vượng xin lấp đầy tâm hồn chúng con với lời tạ ơn,
    và khi gặp khó khăn xin đừng để sự tín thác của chúng con vào Ngài bị thất bại.

    Lm Mark Link (nguoitinhuu)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Saturday, October 08, 2005

    Chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục


    VietCatholic News (30/07/2005) Chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục.

    BẮC KINH: Tháng vừa qua, cơ quan thông tấn AsiaNews đăng một câu chuyện có thực vê việc một đảng viên Cộng Sản Trung Quốc từ bỏ lý thuyết Marx - Lenine và tư tưởng Mao Trạch Đông để tìm về với Đức Kitô. Điều đặc biệt là người đảng viên ấy đã trở thành Linh Mục.

    Cơ quan thông tấn AsiaNews đã không cho biết tên thật của linh mục ấy, chỉ gọi ngài là cha Bao và tất cả những địa danh trong truyện đã được cơ quan thông tấn thay đổi nhằm bảo vệ an ninh cho vị linh mục khỏi bị nhà cầm quyền Trung Quốc trả thù.

    Trong những năm gần đây, tại Trung Quốc ngày càng có nhiều người theo đạo Kitô Giáo và cũng từ đó, có nhiều người chọn lựa cuộc sống tu trì. Ngày nay cơ quan truyền thông của chính quyền Trung Quốc cứ ra rả quảng bá cho chủ thuyết vô thần, nhưng giới trẻ không mấy ai là còn để ý tới chủ thuyết vô thần nữa. Họ đi tìm hiểu về Kitô Giáo và đã gia nhập đạo Công Giáo. Bằng chứng cụ thể chứng minh cho nhận xét này là mới đây Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội ở Bắc Kinh thực hiện một cuộc điều tra xã hội. Kết quả cuộc điều tra cho thấy 60% sinh viên ở Bắc Kinh và Thượng Hải nói họ rất chú ý đến Kitô Giáo.

    Câu chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục dưới đây có tầm ý nghĩa rất quan trọng. Nó cho thấy đảng Cộng Sản Trung Quốc đang phải đối phó với chính căn tính cộng sản vô thần của mình. Hiện nay tại Trung Quốc không mấy ai còn tin vào chủ nghĩa Mao, hay lý tưởng Công Sản. Theo AsianNews nhiều đảng viên CS cao cấp của Trung Quốc đã bí mật tìm hiểu và quan tâm đến tôn giáo, nhất là niềm tin Kitô Giáo. Nhiều cán bộ cao cấp vào những ngày cuối tuần đã đến thăm các vị lãnh đạo tinh thần, có khi họ vào chùa miếu để tham thiền, có vị vào nhà thờ yên lặng suy tư về cuộc sống.

    Từ thực tế này, các linh mục ở Trung Quốc thường hay nhắc tới câu: “Máu các vị Tử Đạo là hạt giống nảy sinh người Công Giáo”. Dưới đây là câu chuyện tự thuật của một đảng viên trở thành linh mục mà AsiaNews đặt tên là Cha Bao:

    “Tôi tên là linh mục Bao đang phục vụ tại miền Bắc Trung Hoa. Cách đây 11 năm tôi được rửa tội và cách đây mấy năm tôi đã đi tu và trở thành linh mục.

    Trước đây tôi là người vô thần và là một người tích cực hoạt động cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc. Khi học ở đại học, tôi giữ chức Trưởng Đoàn Thanh niên Cộng Sản tại một phân khoa, và lúc ấy tâm tư tôi có rất nhiều chương trình và dự phóng tương lai. Đối với Chúa, lúc này tôi không hề mảy may có một ý tưởng gì về Ngài.

    Đối với gia đình tôi, chỉ có bà nội là người theo đạo Tin lành. Hồi còn nhỏ, tôi nhớ có lần được nghe bà nói về Chúa Giêsu. Bà nói Chúa Giêsu là con Thiên Chúa. Tôi nghe cũng chỉ biết vậy vì đâu có chú ý gì đến tôn giáo.

    Tại Trung Quốc, từ tiểu học đến đại học, giáo dục về vô thần là môn học bắt buộc. Do vậy trong trí não tôi có đầy dẫy những lý thuyết vô thần và tôi đã nghĩ rằng tin vào Chúa là chuyện ấu trĩ, nếu không muốn nói là chuyện điên khùng.

    Hoạt Động Cho Đảng Cộng Sản Trung Quốc

    Vào năm thứ tư ở đại học, tôi được kết nạp vào Đảng CS. Dân chúng ở Trung Quốc gia nhập đảng Cộng sản vì niềm tin thì ít mà vì muốn làm bạn với nhiều người thì nhiều, để sau này họ giúp đỡ mình kiếm việc, cứu giúp minh lúc gian nan.

    Sinh hoạt trong tiểu tổ của đảng, tôi không được coi là người tốt lắm, nhưng cũng không bị xếp vào hàng quá tệ. Là sinh viên chúng tôi chỉ cần tốt với mọi người, chăm chỉ học hành và tổ chức tốt mọi sinh hoạt. Nhưng có điều làm tôi trăn trở là những điều mà người ta gọi là tốt kia thực sự không nhằm cho tha nhân mà cho chính bản thân của mình, cho mình được thăng tiến nghề nghiệp sau này. Và do vậy có nhiều điều gian dối giả hình. Nói dối luôn là nét chính trong đời sống chúng tôi. Mọi người phải nói dối. Mọi người biết điều đó nhưng ai cũng như ai, cứ phải nói dối.

    Ví dụ mỗi lần họp tiểu tổ, nghị trình dành ra mấy phút để tự kiểm thảo và phê bình. Nhưng thực ra chẳng có chuyện tự phê cho đúng đắn và cũng chẳng ai thực sự muốn phê bình người khác. Kiểu cách phát biểu như thế đã được định sẵn và nó đã trở thành như một công thức để khoe khoang, tâng bốc. Ví dụ khi phê bình vị Khoa Trưởng, người ta sẽ nói:

    “Đồng chí khoa trưởng này, tôi phải phê bình ông về điều ông làm chưa tôt. Đó là ông làm việc quá sức cho chúng tôi. Đành rằng công việc là quan trọng nhưng sức khỏe của ông cũng quan trọng chứ. Ông phải quan tâm đến sức khoẻ để ông còn làm tốt hơn cho cộng đồng chúng tôi.”

    Những lúc nghe phát biểu như thế tôi tự nhủ: “Chỉ nói láo! Chỉ láo khoét! Nhưng chính tôi cũng đã láo khoét như thế. Sau nhiều lần như vậy, tôi bị ốm. Đêm ngủ, những cơn ác mộng thường làm tôi tỉnh giấc. Một đêm tôi mơ nhận được một gói đồ, mở ra thì thấy đó là quyển sách Phúc Âm. Sách tỏa ra ánh sáng rực rỡ. Tôi thức dậy và tưởng nhớ tới bà nội là người đã có lần nói với tôi về cuốn kinh thánh. Tôi nhớ bà nói Chúa Giêsu là đấng toàn năng. Tôi nghĩ nếu Chúa Giêsu toàn năng thì có lẽ ngài sẽ chữa trị cho tôi khỏi bệnh. Do đó, tôi đi tìm nhà thờ và thấy một nhà thờ Tin Lành trong vùng tôi ở. Mỗi khi đến nhà thờ, đầu óc tôi lại nghĩ tới đảng. Đảng đã cấm tôi tin vào tôn giáo và do vậy, tôi đã bí mật đi gặp các tín hữu Tin Lành.

    Sợ Hãi và Phép Lạ

    Ngay sau khi tốt nghiệp đại học, nhờ sự giúp đỡ của đảng, tôi đã mau chóng có được chỗ làm tốt trong một thành phố lớn, và trước khi nhận việc, cơ quan đã cho phép tôi được nghỉ một tháng về quê thăm gia đình. Lúc sắp hết tháng nghỉ, bạn tôi cho tôi 10 cuống băng cassettes ghi nội dung những bài giảng của một linh mục. Mãi sau này tôi mới biết bạn tôi là người Công Giáo. Sau khi nghe các cuốn băng cassettes thì một cuộc chiến dữ dội xảy ra trong tâm hồn tôi. Tôi nghĩ có lẽ có Chúa thật, và đạo Công Giáo là đạo thật. Nhưng đồng thời, cũng trong lúc đó trí não của tôi lại xuất hiện không biết bao nhiêu là lý thuyết vô thần mà tôi đã học ở tiểu học, trung học rồi đại học.

    Tôi vượt qua được cơn dằn vặt vì sợ rằng nếu tôi chấp nhận đức tin Công Giáo tôi có nguy cơ mất việc. Tôi không biết phải làm thế nào. Đang lúc đó thì đã đến ngày tôi phải trở về thành phố để nhận việc ở cơ quan. Tôi đã mua vé xe.

    Lần đầu tiên trong đời tôi, tôi đã chạy đến Đức Mẹ Maria. Tôi thưa với Mẹ :

    “Mẹ ôi, nếu Mẹ có thực sự hiện hữu, nếu đức tin Công Giáo thực sự là có và nếu mẹ muốn con trở thành người Công Giáo thì hãy ra dấu chỉ cho con: Ngày mai trên đường con về thành phố, xin Mẹ cho một chuyện gì quan trọng xảy ra trên đường con đi, một tai nạn chẳng hạn, mà trong đó con sống sót thì lúc đó con sẽ tin”

    Giờ đây tôi nghĩ lại, sao lúc ấy tôi điên khùng đến thế, dám thách đố cả Chúa, đặt Chúa vào tình huống thử thách như vậy. Tuy nhiên, lúc đó trong trí tôi chỉ nghĩ được những lời cầu xin như vậy.

    Ngày hôm sau, tôi đáp xẻ về thành phố và quả thực xe đò tôi đi đã xảy ra tai nạn. Bánh trước bên phải xe đã nổ tung đang lúc chiếc xe xuống dốc với tốc đô nhanh. Xe đâm ra khỏi đường và lật nhào mấy vòng. Mọi người sống sốt, ai cũng phải chui qua cửa số để thoát ra ngoài.

    Tai nạn có làm tôi xúc động thật nhưng dấu chỉ của tai nạn chưa làm tôi nghĩ ngợi nhiều. Chui ra khỏi cửa số xe, mọi hành khách phải chờ đợi khoảng 1 tiếng đồng hồ công ty xe khách mới đưa chiếc xe khác đến chở chúng tôi đi.

    Tai nạn đã làm tôi mất thời giờ. Tôi phải đáp một chuyến xe lửa nữa mới tới thành phố nơi tôi làm việc. Nhưng khi xe đò đến ga xe lửa thì quày bán vé đã bán hết vé. Chỉ có hàng người nối đuôi nhau mua vé cho chuyến tàu sắp tới sẽ chạy trong 3 ngày nữa. Lúc này thì tôi mêt nhoài và cảm thấy thật thất vọng. Chắc chắn tôi sẽ trình diện trễ trong ngày đầu tiên tại sở làm. Tôi nghĩ miên man và nghĩ đến việc cầu xin Đức Mẹ Maria. Tôi cầu xin:

    “Mẹ ơi, giúp con có vé xe lửa đi trong chuyến hôm nay. Mẹ giúp con lần này con hứa sẽ theo Mẹ”

    Chờ lâu tôi đang thất vọng thì bất chợt, một người đàn ông đến rao bán vé xe. Ông rao:

    “ Ai mua đây ! Vé xe lửa về thành phố.... đi ngay ngày hôm nay”.

    Đúng là chuyến đi về thành phố của tôi. Tôi liền lập tức mua vé của người đàn ông đó. Ông kể rằng ông có vé xe lửa cho người bạn nhưng bạn ông vừa gọi điện thoại cho biết là không thể đến đúng giờ được, chỉ còn 40 phút nữa là xe chạy. Và cũng vì quá trễ nên ông không thể hoàn vé lại cho quày hàng.. Do vậy mà ông phải cố bán vé cho người khác.

    Việc vừa qua là một dấu chỉ nhỏ nhưng là dấu chỉ bắt đầu cho cho cuộc đời của tôi trở lại đạo Công Giáo.

    Sau khi nhận việc ở thành phố, tôi bắt đầu đi kiếm nhà thờ Công Giáo và dự lễ ở đó. Đi lễ nhưng tôi luôn giữ bí mật. Dần dần, tôi hiểu đức tin Công Giáo và đã quyết định xin rửa tội.

    (Còn tiếp)
    Nguyễn Long Thao
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục (tiếp theo)

    Chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục (tiếp theo)

    VietCatholic News (31/07/2005) Chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục (tiếp theo)

    BẮC KINH: Tháng vừa qua, cơ quan thông tấn AsiaNews đăng một câu chuyện có thực vê việc một đảng viên Cộng Sản Trung Quốc từ bỏ lý thuyết Marx - Lenine và tư tưởng Mao Trạch Đông để tìm về với Đức Kitô. Điều đặc biệt là người đảng viên ấy đã trở thành Linh Mục.

    Cơ quan thông tấn AsiaNews đã không cho biết tên thật của linh mục ấy, chỉ gọi ngài là cha Bao và tất cả những địa danh trong truyện đã được cơ quan thông tấn thay đổi nhằm bảo vệ an ninh cho vị linh mục khỏi bị nhà cầm quyền Trung Quốc trả thù.

    Trong những năm gần đây, tại Trung Quốc ngày càng có nhiều người theo đạo Kitô Giáo và cũng từ đó, có nhiều người chọn lựa cuộc sống tu trì. Ngày nay cơ quan truyền thông của chính quyền Trung Quốc cứ ra rả quảng bá cho chủ thuyết vô thần, nhưng giới trẻ không mấy ai là còn để ý tới nó nữa. Họ đi tìm hiểu về Kitô Giáo và đã gia nhập đạo Công Giáo. Bằng chứng cụ thể là mới đây Hàn Lâm Viện Khoa Học Xã Hội ở Bắc Kinh thực hiện một cuộc điều tra xã hội. Kết quả cho thấy 60% sinh viên ở Bắc Kinh và Thượng Hải nói họ rất chú ý đến Kitô Giáo.

    Câu chuyện một đảng viên cộng sản Trung Quốc trở thành linh mục dưới đây có ý nghĩa rất quan trọng. Nó cho thấy đảng Cộng Sản Trung Quốc đang phải đối phó với chính căn tính cộng sản vô thần của mình. Hiện nay tại Trung Quốc không mấy ai còn tin vào chủ nghĩa Mao, hay lý tưởng Công Sản. Theo AsiaNews, nhiều đảng viên CS cao cấp của Trung Quốc đã bí mật tìm hiểu và quan tâm đến tôn giáo, nhất là niềm tin Kitô Giáo. Nhiều cán bộ cao cấp vào những ngày cuối tuần đã đến thăm các vị lãnh đạo tinh thần, có khi họ vào chùa miếu để tham thiền, có vị vào nhà thờ yên lặng suy tư về cuộc sống.

    Từ thực tế này, các linh mục ở Trung Quốc thường hay nhắc tới câu: “Máu các vị Tử Đạo là hạt giống nảy sinh người Công Giáo”. Dưới đây là câu chuyện tự thuật của một đảng viên trở thành linh mục mà AsiaNews đặt tên là Cha Bao:

    Thành Người Công Giáo Và Tìm Được Sự Bình An

    Khi đi tìm đức tin Công Giáo, tôi thấy cộng đồng gồm nhiều những người đơn sơ chất phác và tốt bụng. Tôi cũng tìm thấy mốt số người thực sự là bạn tôi. Tâm tư tôi thấy thanh thản, tôi không còn phải nói dối nữa. Tôi thấy trong cộng đồng này người ta quả có phê bình nhau, phê bình cả cha sở nữa. Tôi bắt đầu thấy ánh sáng và biết rằng mình đã tìm thấy ý nghĩa cuộc đời. Nhưng để được rửa tội, tôi phải vượt một chướng ngại vật lớn lao. Đó là tư cách đảng viên đảng cộng sản của tôi.

    Một người cộng sản nhất thiết phải là người vô thần, trong khi đó một người Kitô giáo lại tin vào Chúa. Việc một lúc vừa là người cộng sản, vừa là một tín hữu Công Giáo là chuyện không thể được. Vị linh mục dậy dỗ giáo lý đã khuyên tôi phải bỏ đảng cộng sản. Nhưng tôi chưa có can đảm để làm được việc đó vì sợ rằng, tôi sẽ lãnh nhận hậu quả nghiêm trọng khi bỏ đảng : Tôi sẽ mất việc và ngay cả bị trừng phạt nữa. Đảng Cộng Sản Trung Quốc kiểm soát mọi chuyện. Bỏ đảng, ở một khía cạnh nào đó, là mất đi mọi hy vọng có một cuộc sống thanh thản, có nghĩa là mình sẽ tự biến thành người xa lạ.

    Theo điều lệ Đảng Cộng Sản ở Trung Quốc, mỗi đảng viên phải đóng một số tiền nhỏ gọi là nguyệt liễm. Nếu một người không đóng nguyệt liễm liên tục trong 6 tháng thì người đó sẽ bị trừng phạt hay bị trục xuất khỏi đảng. Với tôi, tôi không có can đảm công khai xin bỏ đảng, nhưng nghĩ tới việc ra khỏi đảng bằng cách không đóng nguyệt liễm liên tục trong 6 tháng. Và tôi đã không đóng nguyệt liễm thật, nhưng chuyện bị trục xuất khỏi đảng lại không xảy ra. Thì ra người tổ trưởng thấy tôi không đóng nguyệt liễm đã đóng thế cho tôi.

    Tôi không hiểu tại sao người tổ trưởng lại làm như vậy. Ông ta là một người bình thường, chẳng tốt mà cũng không xấu. Có lẽ ông ta nghĩ tôi quên đóng nguyệt liễm nên đã ứng trước để tôi trả lại sau này, và có lẽ ông không muốn cấp trên phê bình, thấy tiểu tổ của ông lại có kẻ bê bối như vậy.

    Cuối cùng, không còn chọn lựa nào khác, tôi đã đi con đường công khai chính thức viết đơn xin ra khỏi đảng. Tuy nhiên, lại không có can đảm đem nộp lá đơn đó. Đã mấy lần tôi quyết định đem nộp, nhưng rồi vẫn không dám. Cuối cùng vận dụng hết sức can đảm, tôi đến thẳng viên chức đảng nộp đơn cho ông. Nhận đơn, ông không nói gì. Ông tỏ ra hoàn toàn bị ngỡ ngàng vì đây là lần đầu tiên trong đời ông thấy một người xin ra khỏi đảng.

    Sau cùng, tôi đã được rửa tội và nhận lãnh phép bí tích này tôi bắt đầu hưởng được sự an bình nội tâm.

    Một thời gian sau, tôi đi gặp một người bạn cũ trong tiểu tổ đảng của tôi. Chúng tôi là bạn với nhau ngay từ khi hai người chưa gia nhập đảng. Khi anh nghe nói tôi đã ra khỏi đảng và trở thành người kitô hữu, anh nói với tôi “ Mình không có cái can đảm như cậu đâu”

    Cuộc Sống Trong Chủng Viện “Chui”

    Sau khi trở thành người Công Giáo, Ngày Chúa Nhật nào tôi cũng đi dự thánh lễ với một cộng đoàn “chui” hay hầm trú, không được nhà nước công nhận.

    Rồi một lần dì phước nói nhỏ với tôi:

    - Sao anh không theo Chúa trọn vẹn đi, hãy trở thành một linh mục.

    Tôi đáp ngay:

    - Không được.

    Gia đình tôi không có ai là người có đạo, và việc trở thành một linh mục là chuyện rất khó. Hơn nữa tôi là con trai cả và theo tục lệ Trung Hoa, tôi có nhiệm vụ phụng dưỡng cha mẹ lúc tuổi già. Nếu nhập chủng viện thì kẻ thù đầu tiên là chính cha mẹ tôi.

    Sáu tháng sau, tôi đang cầu nguyện trong phòng thì nghe thấy tiếng ai gọi tôi:

    - Hãy theo ta.

    Quả thực không có ai trong phòng. Từ thâm tâm, tôi hiểu đó là tiếng Chúa Giêsu gọi tôi. Nhưng tôi quá sợ hãi trở thành một linh mục của Giáo Hội “chui”. Điều đó có nghĩa là từ bỏ mọi sự, bỏ gia đình, bỏ công ăn việc làm, tự đặt mình vào bao nhiêu cảnh huống nguy hiểm: vác thánh giá, chịu đau khổ, tù đày.

    Và tôi đã đáp lại:

    - không

    - không

    Tù lúc tôi không đáp lại tiếng Chúa gọi, tôi không còn cảm thấy bình an trong tâm hồn, luôn luôn áy náy, mất hết những gì gọi là vui thú. Tôi không muốn theo Chúa Giêsu vì tôi đang có việc làm tốt, một đời sống êm đềm. Nhưng tôi không cưỡng lại được tiếng Chúa gọi. Do vậy tôi cầu xin để kiếm được một việc làm mới ở một thành phố khác xa đây ngõ hầu tôi có thể âm thầm bỏ việc và gia nhập chủng viện.

    Tôi làm việc ở thành phố mới này được gần 2 năm, sống tằn tiện hết mức để mong dành được số tiền lớn để lại cho cha mẹ trước khi theo tiếng Chúa gọi. Tôi biết tôi yếu đuối lắm nên tôi đã cầu nguyện với Chúa:

    - Lậy Chúa Giêsu, nếu Chúa muốn, hãy làm cho con trung thành với Chúa mãi mãi như các môn đệ của Ngài. Đây là một phép lạ vĩ đại.

    Tôi học trong chủng viện “chui” tất cả 5 năm. Cuộc sống ở đó có nhiều gian nan và nguy hiểm. Thức dậy lúc 5 giờ sáng, nguyện ngắm nửa tiếng, dự thánh lễ rồi tạ ơn. Ăn sáng xong chúng tôi quét dọn nhà rồi bắt đầu học. Mọi người đi ngủ lúc 10 giờ tối.

    Đời sống trong chủng viện “chui” khá khổ cực: Căn nhà chúng tôi ở là do các giáo hữu xây dựng ở miệt quê và mỗi khi nghe công an biết chỗ chúng tôi ở, là ngay lập tức chúng tôi di tản đi chổ khác. Chỉ trong 5 năm tôi thay đổi chỗ ở đến 3 lần.

    Chủng sinh chúng tôi phải làm mọi việc, từ công tác vệ sinh đến việc nấu nướng bữa ăn cho mọi người. Về đời sống vật chất, đời sống rất khó khăn: thiếu thốn thực phẩm, rau cỏ ít oi, còn thịt thì họa hiếm lắm. Phòng nào cũng đầy ắp người, đâu có phòng nào rộng rãi. Tuy nhiên, trong tâm hồn, tôi cảm thấy rất thanh thản và vui tươi, trái với tâm tình trước kia là băn khoăn trăn trở. Tình nghĩa giữa những anh em chủng sinh thật là là huynh đệ. Mọi xích mích đều được giải quyết nhanh gọn và ai cũng sẵn sàng thương yêu nhau.

    Sau 5 năm học tại chủng viện, ngày truyền chức linh mục cho tôi đã đến. Lúc đó vì tình hình địa phận đang rất là căng thẳng, chúng tôi rất dễ bị công an bắt bớ tù đày, nên thánh lễ truyền chức cho tôi đã diễn ra vào lúc 4 giờ sáng. Lúc đó, mọi người Trung Hoa và ngay cả công an nữa cũng còn đang ngủ ngon giấc.

    Cho dù đời sống của người Công Giáo có khó khăn, nhưng đức tin của chúng tôi cứ ngày càng vững mạnh. Bằng chứng là các tấm gương của các linh mục đang ngồi tù. Một ví dụ khác là vào năm 1983, lúc Trung Quốc bắt đầu cải cách kinh tế, thành phố nhỏ quê tôi lúc đó chỉ có 3 gia đình Công Giáo. Bây giờ sau hơn 20 năm, có tất cả hơn 4000 giáo hữu. Đó thực sự là máu các vị tử đạo đã là hạt giống sinh ra các người Công Giáo.

    Giờ đây, đối với tôi, sức mạnh của tôi là chính Chúa Giêsu, Chúa đã nói:

    - Không phải các con chọn Thầy mà chính Thầy đã chọn các con (Jn15:16).

    Theo đường của Ngài, tôi thấy Thánh Giá nhưng tôi vui sướng và bình an trong tâm hồn. Rồi với sự giúp đỡ của Chúa, tôi sẽ luôn theo Ngài,vượt qua tất cả mọi gian nan thử thách đến với tôi.

    Nguyễn Long Thao
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, October 06, 2005

    Mẹ Maria, Đoá Hoa Nhiệm Mầu


    Một trong những lời kinh dịu dàng nhưng để lại dấu ấn đậm nét trong lòng người từ xa xưa cho đến hôm nay, đó là một lời kinh trong “Kinh Cầu Đức Bà”. Lời kinh đó phác hoạ hình ảnh tuyệt diệu diễn tả vẻ đẹp của Mẹ Maria: “Đức Bà như Hoa Hường Mầu Nhiệm vậy”. Quả thật, Mẹ Maria chính là bông hoa kỳ diệu nở giữa đời.
    Từ thuở hoang sơ cho đến bây giờ, hoa không bao giờ vắng bóng trong cuộc đời. Dù giữa những khô cằn sỏi đá, hay trong phong ba bão táp; dù giữa những lo âu phiền muộn hay trong tủi cực đắng cay, hoa luôn có mặt trong cuộc sống con người như một sự vỗ về êm dịu nhất. Hoa trao hương sắc cho đời và làm mát dịu lòng người. Con người mượn lời của hoa để bày tỏ tâm tình hay để biểu lộ tình yêu. Hoa góp phần làm nên cuộc sống tươi đẹp. Hoa dâng hiến mình làm cho cuộc đời thêm phong phú và đáng sống hơn.

    Cũng vậy, Mẹ Maria là Đoá Hoa Nhiệm Mầu nở giữa cuộc đời gai góc gian truân. Thiên Chúa đã trang điểm cho Mẹ Maria bằng những ân huệ cao vời để Mẹ trở thành đoá hoa huyền nhiệm giữa gian trần.
    A.Mẹ Maria, đoá hoa tuyệt mỹ

    1.Hoa là mẹ của trái. Không có hoa sẽ không có quả. Hoa báo hiệu mùa trái chín xum xuê đầy cành. Nhưng có ai biết cho rằng hoa không nở ra vì mình, nhưng là để sinh ra những trái chín ngọt ngon. Vì thế, cây đơm bông là để kết trái. Hoa mang thiên chức cao cả của người mẹ.
    Mẹ Maria đã được Thiên Chúa tuyển chọn để trở nên Mẹ Thiên Chúa (Công Đồng Êphêsô năm 431) và cũng là Mẹ của mọi tín hữu. Đức Giêsu Kitô chính là hoa quả đầu mùa của lòng Mẹ và mọi tín hữu trở thành hoa trái thiêng liêng sinh ra từ tấm lòng hiền mẫu của Mẹ. Mẹ Maria là đoá hoa tôn quý vì đã sinh ra Chúa Cứu Thế và là Mẹ của Giáo Hội.

    2.Hoa vươn lên từ tro than ẩm mục. Hoa khoe sắc và tỏa hương dù dưới gốc là bùn đất hôi tanh. Hoa vẫn tinh khiết dù chung quanh đầy nhơ bẩn. Hoa nở ra tươi thắm từ mục nát mà không vương nhiễm tỳ ố.
    Mẹ Maria từ phút đầu thai đã được gìn giữ vô nhiễm khỏi vết nhơ nguyên tội (Đức Giáo Hoàng Piô IX trong thông điệp Ineffabiis, ngày 8/12/1854). Mẹ là cánh hoa tinh tuyền vươn lên từ tội luỵ nhân trần, Mẹ được sinh ra từ lòng nhân thế nhưng không lây nhiễm tội lỗi. Đó là đặc ân cao vời Thiên Chúa toàn năng đã ban cho Mẹ. Mẹ chính là đoá hoa Vô Nhiễm Nguyên Tội. Như hoa cần nước và ánh nắng mặt trời, Mẹ còn là đoá hoa trinh nữ được tia nắng Thánh Thần phủ bóng (Lc 1,35). Mẹ bám rễ vào cội nguồn Thiên Chúa để hút lấy nguồn nước thần linh và trở thành bông hoa trinh khiết trọn đời.

    3.Hoa trao tặng mật ngọt cho đời. Mật hoa đem hương vị thơm ngon đến cho lòng người giữa những cay đắng và chua chát của kiếp sống nhân gian.
    Cũng thế, Mẹ Maria như đoá hoa tình yêu nở giữa muôn ngàn hận thù ghen ghét. Mẹ mang hương vị tình yêu đến cho con người và cuộc sống. Mẹ vượt qua núi đồi mang niềm vui đến cho người chị họ Isave (Lc 1, 39-45), Mẹ nâng đỡ đôi tân hôn để làm tăng thêm men nồng tình yêu tại tiệc cưới Cana (Ga 2, 1-12). Phải chăng những giọt mật cho đời của lòng Mẹ là kết tinh của những giọt lệ Mẹ nhỏ ra dưới chân thập giá khi nhìn thấy Người Con Yêu Dấu bị hành hình ? (Ga 19, 25-27), hay là được chắt lọc từ những giọt máu tuôn trào từ trái tim bị lưỡi gươm đâm thâu qua ? (Lc 2, 35).

    4.Hoa tô phấn cho đời. Phấn hoa đem lại nét đẹp cho cuộc sống. Đó không phải chỉ là sản phẩm của hoa, nhưng còn tượng trưng cho “phẩm chất” tâm hồn và nâng cao chất lượng cuộc sống, phấn hoa là món quà mà thiên nhiên ưu ái tặng cho con người.
    Cũng vậy, Mẹ Maria đã đem lại niềm vui ơn cứu rỗi cho nhân loại qua Lời Xin Vâng (Lc 1, 38), Mẹ là Lời Ca Ngợi (Magnificat) thay cho nhân loại dâng lên Thiên Chúa (Lc 1, 46-55). Tuy nhiên, Mẹ đã cộng tác vào công cuộc cứu chuộc nhân loại bằng cuộc đời đơn sơ “không son phấn” của người nữ tỳ khiêm hạ. Mẹ đã hoà tan trong cuộc khổ nạn của Con Mẹ với bảy sự thương khó của chính mình.

    5.Hoa tỏa hương thơm cho đời. Hương hoa làm cho cuộc sống thơm ngát và trở nên tươi mới tinh khôi. Hoa không chỉ toả hương mà còn sẵn sàng chịu vắt kiệt chính mình để cho tinh dầu thơm ngào ngạt, làm dậy hương thơm thể xác và tâm hồn, làm cho tinh thần được thăng hoa.
    Cũng vậy, Mẹ Maria đã toả hương thơm nhân đức cho trần thế, đã cho nhân loại tinh chất hương hoa của tâm hồn khiêm tốn, hiền lành, thánh thiện. Mẹ trao hiến cho dương gian mùi hương tin, cậy, mến. Hương thơm ấy là tinh tuý của một đời thầm lặng trong tin yêu, chỉ biết chiêm ngưỡng những mầu nhiệm cao cả và suy gẫm trong lòng (Lc 2, 51). Tuy thế, để có thể dâng hiến cho Thiên Chúa và trao tặng cho nhân loại hương hoa thánh thiêng ấy, Mẹ đã đắm mình trong cầu nguyện và thực thi Thánh Ý (Lc 1, 38)

    B. Mẹ Maria, bông hoa không héo tàn.
    Hoa luôn phải tuân theo một định luật tự nhiên “hoa nở rồi hoa tàn”. Có loài hoa sớm nở tối tàn, có loài hoa nở suốt mùa xuân, nhưng tất cả đều mang một định mệnh tất yếu: sự tàn lụi.

    Tuy nhiên, Mẹ Maria là đoá hoa không úa tàn. Thật vậy, sau khi hoàn tất sứ mệnh của loài hoa đầy ân sủng ở trần gian, Đoá Hoa Nhiệm Mầu ấy đã được bàn tay từ ái của Thiên Chúa hái về thiên quốc để được chia sẻ vinh quang bất diệt với Người.
    Ngày 01 tháng 11 năm 1950, tại quảng trường thánh Phêrô, Rôma, Đức Giáo Hoàng Piô XII đã long trọng tuyên tín : “Đức Maria, Mẹ Vô Nhiễm của Thiên Chúa trọn đời đồng trinh, sau cuộc sống trần gian này, đã được phúc vinh quang thiên đàng cả hồn lẫn xác...”

    Mẹ Maria đã vượt lên trên định mệnh thông thường của loài người, được Thiên Chúa cho về trời cả hồn lẫn xác vì Mẹ là Mẹ Thiên Chúa, là Đấng Vô Nhiễm Thai, được đồng trinh trọn đời nên cũng xứng đáng để thân xác không bị chôn vùi trong mục nát, nhưng được vinh phúc trên trời cả hồn và xác.
    Mẹ về trời nhưng vẫn đoái thương đoàn con dưới thế là hoa trái thiêng liêng của lòng Mẹ. Nhân loại đã được Chúa trao vào vòng tay từ mẫu của Mẹ dưới chân thập giá năm xưa (Ga 19,26), để từ nay Mẹ trở thành Evà mới, Mẹcủa mọi người trong nhân loại. Mẹ về trời nhưng vẫn để lại làn hương thanh khiết toả lan khắp gian trần. Mẹ về trời nhưng vẫn để lại vị ngọt yêu thương giữa đời, nâng dậy những tâm hồn khổ đau, chắp cánh cho những cuộc đời bi luỵ đang rơi xuống vực thẳm u sầu và lũng sâu nước mắt.

    Mỗi người chúng ta là một bông hoa trần thế được mời gọi cùng với Mẹ Maria toả hương thơm thánh thiện cho mọi người, đem yêu thương đến cho những tâm hồn sầu khổ, đem niềm tin đến cho những ai đang thất vọng, đem ủi an đến cho người âu lo. Chúng ta hãy trở thành đoá hoa nhân ái giữa lòng đời hôm nay.

    Lm JB Nguyễn Văn Bộ (LỚP PIOX XUÂN LỘC)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?