Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Monday, January 16, 2006

VẤN ĐỀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN THEO TÔNG HUẤN ‘NGƯỜI KI-TÔ HỮU GIÁO DÂN’

VÀO ĐỀ
Công Đồng Vatican II đã xác định lại ơn gọi, phẩm giá, trách nhiệm và vai trò quan trọng của giáo dân trong Giáo hội cũng như trong trần thế. Công Đồng Vatican II cũng nhìn nhận sự đóng góp to lớn của giáo dân trong mọi hoạt động của Giáo Hội. Chính vì thế mà các Nghị Phụ Công Đồng nhấn mạnh, một cách hết sức rõ ràng và triệt để, đến tầm quan trọng của việc đào tạo giáo dân:

“Giáo hội chưa được thiết lập thực sự, chưa sống đầy đủ, cũng chưa là dấu chỉ tuyệt hảo của Chúa Ki-tô giữa loài người nếu như chưa có hàng giáo dân đích thực và nếu hàng giáo dân này chưa cùng làm việc với hàng Giáo phẩm. Thật vậy, Phúc Am không thể đi sâu vào tinh thần, đời sống và sinh hoạt của một dân tộc nếu không có sự hiện diện linh hoạt của giáo dân.

Do đó, ngay khi thiết lập, Giáo hội phải hết sức chú tâm đến việc đào tạo một hàng giáo dân Ki-tô giáo trưởng thành” (Sắc Lệnh Truyền Giáo, số 21).

Chúng ta nên lưu ý là Công Đồng không nói đến một số giáo dân mà nói đến một hàng giáo dân đích thực, trưởng thành tức nói đến một đội ngũ, một tầng lớp thuộc thành phần đông đảo nhất của Giáo Hội là giáo dân.



THẾ NÀO LÀ GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC hay TRƯỞNG THÀNH?

1.- Chúng ta không cần đi sâu vào việc tìm ra một định nghĩa đầy đủ về người giáo dân đích thực hay trưởng thành. Chỉ cần chúng ta dựa vào cách suy nghĩ thông thường và phổ biến của mọi người để hiểu thế nào là người giáo dân đích thực hay trưởng thành.

Hiểu một cách đơn giản, người giáo dân đích thực là người giáo dân sống đạo thật sự, chứ không chỉ sống đạo một cách hời hợt hình thức, càng không phải là người chỉ có cái tên là người có đạo. Tương tự như thế, người giáo dân trưởng thành là người giáo dân có sự hiểu biết tương đối về Đạo, có suy nghĩ chín chắn, có ý thức rõ rệt về vai trò chức năng ơn gọi của mình và tự mình có dấn thân cụ thể trong đời sống Đức Tin.

2.- Trong đoạn văn trích dẫn từ Sắc Lệnh Truyền Giáo ở trên, các Nghị phụ Công Đồng đưa ra một tính chất khác bên cạnh tính “đích thực hay trưởng thành”. Đó là hàng giáo dân ấy phải có khả năng và điều kiện để cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm. Cùng làm việc với hàng Giáo Phẩm thì rõ ràng không phải chỉ là làm việc dưới sự lãnh đạo, chỉ huy hay điều khiển của hàng Giáo Phẩm, mà là cùng suy nghĩ và hành động với các chủ chăn để thực thi sứ mạng mà Chúa Giê-su trao phó cho toàn Giáo hội.

ĐỂ GIÁO HỘI CÓ HÀNG GIÁO DÂN ĐÍCH THỰC hay TRƯỞNG THÀNH, THÌ …..

Cha ông ta có câu:” Không thầy đố mày làm nên.” Còn người La Mã xưa có châm ngôn:”Không ai cho cái mình không có” (Nemo dat quod non habet). Cả hai châm ngôn trên đều nói lên tầm quan trọng của việc học hỏi, rèn luyện. Ap dụng vào trường hợp người giáo dân, chúng ta có thể nói: Muốn hiểu biết về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo hội và trong thế giới và muốn biết cách chu toàn Ơn gọi và Sứ mạng ấy thì người giáo dân cần được học hỏi và đào luyện rất nhiều. Nói theo ngôn ngữ của Đức Gio-an Phao-lô II trong Tông Huấn Christifideles Laici tức “Người Ki-tô hữu giáo dân” (NKTHGD, số 45-49) thì mọi Ki-tô hữu (linh mục, tu sĩ, giáo dân), mọi người già trẻ lớn bé nam cũng như nữ, đều là những người thợ làm vườn nho của Thiên Chúa. Đã là thợ thì phải có trình độ tay nghề mới có thể đảm đương công việc của người thợ . Mà muốn có tay nghề thì phải học nghề. Học nghề chính là công việc đào tạo, huấn luyện! Vậy nếu Giáo hội muốn có hàng giáo dân đích thực hay trưởng thành thì đương nhiên Giáo hội phải quan tâm đến việc huấn luyện, đào tạo và đầu tư cách thích hợp vào công việc ấy.

VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO

1. THẾ NÀO LÀ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN?

1.1 Tông huấn NKTHGD nói như sau về việc đào tạo giáo dân:

”Hình ảnh trong Tin Mừng về cây nho và các cành nho cho chúng ta thấy một khía cạnh nền tảng khác trong đời sống và sứ vụ của giáo dân: lời kêu gọi phải lớn lên, không ngừng trưởng thành và luôn luôn sinh hoa trái nhiều hơn” (số 57).

Vậy đào tạo giáo dân là làm cho người tín hữu trở thành người giáo dân đích thực và trưởng thành. Nói cách khác là giúp người giáo dân hiểu biết đầy đủ về Ơn gọi và Sứ mạng của mình trong Giáo Hội và trong thế giới và đồng thời có khả năng đảm nhận Ơn gọi và Sứ mạng ấy một cách hiệu quả.

1.2 Đối tượng của việc đào tạo ở đây là người giáo dân, chứ không phải các tu sinh hay chủng sinh. Thế có nghĩa là chúng ta phải xác định một số vấn đề như Giáo dân là ai? Giáo dân sống ở đâu? Giáo dân có ơn gọi và sứ mạng (chung và riêng) gì?

2. MỤC ĐÍCH CỦA VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

Trong Tông Huấn NKTHGD, Đức Thánh Cha Gio-an Phao-lô II nêu lên hai mục đích trong việc đào tạo giáo dân.

2.1 Mục đích thứ nhất của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân trưởng thành hơn trong tiến trình nên giống Đức Ki-tô:

“Các Nghị Phụ…diễn tả việc huấn luyện người giáo dân như một tiến trình trưởng thành liên tục của cá nhân trong đức tin và là một tiến trình nên giống Đức Ki-tô, theo ý muốn của Chúa Cha, dưới sự hướng dẫn của Chúa Thánh Thần” (NKTHGD, số 57)

2.2 Mục đích thứ hai của việc đào tạo giáo dân là để giúp giáo dân khám phá và sống ơn gọi và sứ vụ riêng của mình :

“Việc huấn luyện giáo dân có mục tiêu nền tảng là giúp họ khám phá ra mỗi ngày mỗi rõ ràng hơn ơn gọi cá nhân và luôn hết sức sẵn sàng chu toàn sứ vụ riêng của mình” (NKTHGD, số 58)

3. HAI LÃNH VỰC & CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO

Cũng theo Tông huấn NKTHGD thì người giáo dân cần được đào tạo trong hai lãnh vực khác nhau: lãnh vực tổng quát và lãnh vực chuyên biệt. Vì có hai lãnh vực nên cũng cần phải có hai chương trình đào tạo khác nhau.

3.1 Lãnh vực & chương trình tổng quát:

Mọi người giáo dân phải được đào tạo trong lãnh vực và theo chương trình tổng quát này. Ở đây người giáo dân được đào tạo về những nền tảng cơ bản của đời sống Đức Tin, gồm nhiều mặt: nhân bản, tâm linh, kiến thức, ý thức thái độ và kỹ năng.

1) Về mặt nhân bản, Người giáo dân được đào tạo để:

a) Trở thành một con người hoàn thiện về mặt nhân bản, với những đức tính hướng thiện, công bằng, yêu thương, nhân ái, vị tha, thanh liêm chính trực, trọng chữ tín, trọng của công, có tinh thần trách nhiệm,

b) Nhạy bén với các vấn đề xã hội, có tình liên đới với những người chung quanh.

2) Về mặt tâm linh, Người giáo dân được đào tạo để:

a) Trở thành một Ki-tô hữu xác tín và dấn thân,

b) Phát triển đời sống cầu nguyện và tình thân với Đức Giê-su, với Thiên Chúa:

”Mỗi người được mời gọi để không ngừng lớn lên trong tình thân mật với Đức Giê- su, với Thiên Chúa…”

c) Tinh luyện động cơ làm việc và phục vụ, nhất là đối với những người có nhiệm vụ lãnh đạo cộng đoàn,

d) Biết qui chiếu đời sống Đức Tin vào Đức Ki-tô và xây dựng đời sống trên nền tảng Lời Chúa,

đ) Biết hội nhập Văn Hoá và Đức Tin một cách hài hòa.

3) Về mặt kiến thức, Người giáo dân được đào tạo để:

a) Có một hiểu biết thông thạo về Giáo Lý, Thánh Kinh, Thần Học, Công Đồng,

b) Có một kiến thức tổng quát về các vấn đề kinh tế, xã hội, chính trị, văn hóa, tôn giáo, môi sinh và các phương tiện thông tin đại chúng. Ở đây phải dành một chỗ hết sức quan trọng cho việc học hỏi về Học Thuyết Xã Hội của Giáo Hội.

4) Về mặt ý thức và thái độ, Người giáo dân được đào tạo để có:

a) Ý thức trách nhiệm xã hội,

b) Ý thức các mối tương quan cộng đoàn và dành ưu tiên cho việc xây dựng cộng đoàn, cho cách làm việc chung, làm việc ê-kíp, nhóm,

c) Thái độ khiêm tốn phục vụ, chiasẻ, giúp đỡ người khác.

5) Về mặt kỹ năng, Người giáo dân được đào tạo để:

a) Biết linh hoạt một nhóm nhỏ hay một cộng đoàn lớn,

b) Biết mời gọi, thuyết phục và ảnh hưởng trên người khác,

c) Biết hướng dẫn các buổi cử hành, nghi thức, cầu nguyện,

d) Biết điều hành các buổi hội họp thảo luận hay chia sẻ,

đ) Biết cách giải quyết các xung đột,

e) Biết truyền thông cho người khác,

g) Biết lên kế hoạch, thực hiện và lượng giá việc thực hiện kế hoạch.

3.2 Lãnh vực chuyên biệt:

Đối với một số giáo dân có Ơn gọi và Sứ mạng riêng như các Giáo Lý viên, Linh Hoạt Viên các cộng đoàn, Hội viên Hội Đoàn Công Giáo Tiến Hành, Thành viên Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ, các Tông Đồ Giáo Dân, những người làm việc Từ Thiện, những người dấn thân trong lãnh vực nghề nghiệp, chính trị….. thì ngoài chương trình huấn luyện chung cho mọi giáo dân, họ cần có một chương trình đào tạo riêng. Gọi chương trình ấy gọi là chương trình huấn luyện chuyên biệt, vì nhằm đáp ứng các nhu cầu, ơn gọi và sứ vụ riêng biệt của từng hạng người: Ví dụ các Giáo Lý Viên thì phải có sự hiểu biết và kỹ năng về Sư Phạm Giáo Lý, Hội Đồng Mục Vụ Giáo Xứ thì phải có hiểu biết và kỹ năng về lãnh đạo tập thể, Tông Đồ Giáo Dân thì phải có hiểu biết về giá trị các tôn giáo không Ki-tô giáo và phải có nghệ thuật tâm lý trong giao tiếp v.v…

Nhưng điều tối quan trọng mà Đức Gioan Phaolo II nhấn mạnh trong Tông huấn NKTHGD là việc đào tạo phải toàn diện để có một đời sống thống nhất:

“ Trong cuộc sống không thể có hai đời sống song song nhau: một bên là đời sống gọi là ‘thiêng liêng’, với những giá trị và những đòi hỏi riêng, và bên kia là đời sống ‘trần thế’, nghĩa là đời sống gia đình, nghề nghiệp, những tương quan xã hội, sự tham gia chính trị, các hoạt động văn hóa. Cành nho nào được nối với cây nho là Đức Ki-tô sẽ trổ sinh hoa trái trong tất cả mọi lãnh vực hoạt động và trong mỗi giai đoạn của cuộc sống. Thật vậy, tất cả mọi lãnh vực của đời sống giáo dân đều nằm trong ý định của Thiên Chúa, Đấng đã muốn những lãnh vực đó là “môi trường lịch sử” để mặc khải và thực thi Đức Ai của Đức Giê-su Ki-tô, nhằm vinh quang Chúa Cha để phục vụ anh em. Tất cả mọi hoạt động, mọi hoàn cảnh, mọi sự dấn thân cụ thể –chẵng hạn như khả năng chuyên môn và sự liên đới trong công việc, tình yêu và sự dâng hiến trong gia đình cũng như trong việc giáo dục con cái, công việc xã hội và chính trị, việc trình bày chân lý trong lãnh vực văn hóa - tất cả những điều đó là cơ hội được Thiên Chúa quan phòng để ‘không ngừng thực thi đức Tin, đức Cậy và đức Mến” (NKTHGD số 59; HCVMvHV số 43; SLTG số 21; LBTM số 20).

4. PHƯƠNG PHÁP & PHƯƠNG THẾ ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

Giáo hội luôn quan tâm tới những khám phá và tiến bộ của con người trong mọi lãnh vực, nhất là lãnh vực giáo dục, nên Giáo hội sẽ hết sức chú trọng đến việc đem các tiến bộ tốt đẹp ấy ứng dụng vào trong công việc giáo dục của mình. Vì thế mà trong công cuộc đào tạo giáo dân của mình, Giáo hội xử dụng nhiều phương pháp thích hợp và có giá trị, như:

1- Trau đồi kiến thức phải đi đôi với thực hành.

2- Giúp giáo dân tự đào tạo mình.

3- Đào tạo giáo dân qua cử hành Phụng Vụ, Bí Tích.

4- Đào tạo giáo dân bằng các Lớp, các Khóa Học Hỏi ngắn và dài ngày,

5- Đào tạo giáo dân qua các Hội đoàn Công Giáo Tiến Hành,

6- Bồi dưỡng giáo dân qua các Hội Nghị, các đợt Tĩnh Tâm.

6. THỜI GIAN & MÔI TRƯỜNG ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

Hẳn nhiên là công cuộc đào tạo giáo dân như thế thì không thể có điểm dừng, nghĩa là không bao giờ có thể nói là đã hoàn thành. Từ bé tới lớn, từ trẻ tới già luôn luôn là thời gian đào tạo.

Còn môi trường đào tạo thì chính là trong Giáo Hội từ gia đình cho đến giáo xứ, giáo phận, cho đến giáo hội toàn cầu. Trong các môi trường ấy phải kể đến các trường công giáo (từ tiểu đến trung và đại học) và các môi trường hội đoàn (xem số 61-62).

5. NHỮNG NGƯỜI CÓ TRÁCH NHIỆM ĐÀO TẠO GIÁO DÂN

Nói cho đến cùng, thì chính Thiên Chúa là Đấng Đào Tạo các Ki-tô hữu giáo dân cũng như giáo sĩ. Và chỉ một mình Đức Giê-su Ki-tô là Thầy, là Sư Phụ dậy dỗ và rèn luyện mọi người nên con cái Thiên Chúa, nên giống Ngài (Thầy nào trò nấy). (KTHGD số 61). Nhưng Thiên Chúa và Đức Ki-tô cũng đã giao trách nhiệm đào tạo ấy cho các Tông Đồ và đặc biệt là Tông Đồ Trưởng Phê-rô.

Vì thế Đức Giáo Hoàng và các Đức Giám Mục là những người được Thiên Chúa giao phó công việc giáo dục đào tạo mọi thành phần Dân Chúa trong phạm vi quyền hạn và trách nhiệm của mình: Đức Giáo Hoàng thì trong phạm vi Giáo hội toàn cầu, các Giám Mục thì trong phạm vi Giáo hội địa phương là giáo phận. Tông huấn khẳng định:

“Công cuộc giáo dục trước hết là công việc của Giáo hội toàn cầu. Đức Giáo Hoàng giữ vai trò người giáo dục đầu tiên của giáo dân. Là người kế vị thánh Phê-rô, ngài cũng có sứ mệnh “củng cố anh em mình trong đức Tin” bằng cách dạy dỗ tất cả mọi tín hữu những yếu tố thiết yếu trong ơn gọi cũng như sứ vụ của Ki-tô giáo và Giáo hội. Không chỉ những lời do chính ngài đã loan báo, nhưng cả những gì được trình bày trong các văn kiện của các cơ quan khác nhau của Toà Thánh đều cần được người giáo dân lắng nghe với lòng tuân phục kính yêu” (NKTHGD số 61)

“Tại mỗi giáo hội địa phương vị Giám mục có một trách nhiệm cá nhân đối với giáo dân. Ngài phải huấn luyện họ bằng cách loan báo Lời Chúa, cử hành phụng vụ Thánh Thể và các Bí Tích, làm sinh động và hướng dẫn đời sống Ki-tô hữu” (NKTHGD số 61).

Trên thực tế các Giám Mục thực hiện công việc quan trọng ấy bằng nhiều cách: thăm viếng, khuyên nhủ, giảng dậy trực tiếp hay gián tiếp tức qua các phương tiện truyền thông xã hội như thư từ, báo chí, sách vở, tài liệu và qua các cộng tác viên sống động là các linh mục. Cho nên sau giám mục thì các linh mục nhất là các linh mục chánh xứ là người có trách nhiệm chính trong việc đào tạo huấn luyện giáo dân, vì như Tông huấn xác định:

“Giáo xứ giữ một vai trò thiết yếu trong việc huấn luyện cách trực tiếp hơn với từng giáo dân. Thực vậy giáo xứ có điều kiện dễ dàng để đến với riêng từng người, từng nhóm nên giáo xứ được kêu gọi đào tạo các phần tử của mình biết lắng nghe Lời Chúa, biết đối thoại với Chúa trong cử hành phụng vụ cũng như cầu nguyện riêng, biết sống bác ái huynh đệ, và đồng thời giáo xứ còn phải cho họ thấy được một cách trực tiếp và cụ thể, ý nghĩa của sự hiệp thông trong Giáo hội và của trách vụ Truyền Giáo” (NKTHGD số 61).

Các Tu Sĩ cũng có trách nhiệm tham gia một cách nào đó vào công việc đào tạo này, vì tu sĩ cũng là thành phần Dân Chúa, mà đã là thành phần Dân Chúa thì không ai không có trách nhiệm xây dựng Thân Thể Huyền Nhiệm của Chúa Ki-tô là Giáo hội.

Sau cùng việc đào tạo hàng giáo dân trưởng thành còn là trách nhiệm của chính người giáo dân, nhất là của những người làm cha làm mẹ, làm huynh trưởng các phong trào giáo dân, các bậc đàn anh đàn chị trong các hội đoàn, tổ chức công giáo tiến hành. Trong một số trường hợp thiếu linh mục hoặc các linh mục quá bận với công việc mục vụ hoặc các linh mục lơ là với việc đào tạo giáo dân, thì trách nhiệm đào tạo giáo dân của hàng giáo dân càng nặng nề và cấp bách hơn.

VIỆC ĐÀO TẠO GIÁO DÂN TRONG GIÁO HỘI CÔNG GIÁO VIỆT NAM NGÀY NAY

Không ai chối cãi được rằng Giáo hội Việt Nam còn rất nhiều việc phải làm trong công tác đào tạo giáo dân (cũng như giáo sĩ, tu sĩ). Hàng Giáo Phẩm Việt Nam (tức các Giám Mục người Việt) mới ra đời cách đây có 40 năm, tức vào năm 1960. Vào thời điểm ấy đất nước còn bị chia đôi, khiến việc xây dựng Giáo Hội không dễ dàng gì. Nếu Công Đồng Vatican đến với Giáo hội Việt Nam thì cũng chỉ đến một cách rất giới hạn, một nửa Miền Bắc không có Nghị Phụ nào đi dự Công Đồng, một nửa Miền Nam sống trong chiến tranh, bất ổn.

Hoà bình lập lại trên toàn cõi Việt Nam năm 1975 nhưng mãi tới năm 1980 Giáo hội Việt Nam mới có Hội Nghị Hội Đồng Giám Mục thống nhất. Lá Thư Chung của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam ra đời sau Hội Nghị lịch sử này và là một cột mốc hết sức quan trọng. Từ 20 năm nay (1980-2000) tuy Hội Đồng Giám Mục Việt Nam có hội nghị thường niên, nhưng còn rất nhiều lãnh vực mà các Giám mục chưa thực hiện hay chưa có quyền thực hiện. Chúng ta cứ nhìn vào cách tổ chức và các cơ cấu hiện nay của Hội Đồng Giám Mục Việt Nam thì chúng ta thấy rõ khoảng trống mênh mông cần chóng được lấp đầy trong thời gian ngắn nhất.

Đi sâu vào thực tế, chúng ta phải nhìn nhận là Giáo Hội Việt Nam mới chỉ có Chương Trình Giáo Lý Xưng Tội Rước Lễ, Thêm Sức và Bao Đồng (hay còn gọi là Rước Lễ Trọng Thể) và Chuẩn Bị Hôn Nhân. Mà cũng chưa hẳn là chương trình thống nhất từ giáo phận này đến giáo phận khác. Ngay một Uy Ban Giáo Lý nhiều giáo phận cũng chưa có, huống chi nói đến Uỷ Ban Giáo Lý toàn quốc. Chúng ta cũng chưa phục hồi được các Trung Tâm Huấn Giáo đã có trước 1954 (Miền Bắc) và trước 1975 (Miền Nam), chưa có các Chương Trình và Trung Tâm Đào Tạo cao hơn, chuyên hơn cho giáo dân. Những nỗ lực trong 20 năm qua của Hàng Giám Mục là khôi phục các Đại Chủng Viện, một vài Học viện Liên Dòng. Đó cũng là lẽ bình thường, vì hàng giáo sĩ là “con ngươi” trong con mắt Giáo hội mà! Với giáo dân thì dù nhu cầu có cấp bách đến mấy, dường như chúng ta còn phải nghe lời nhắn nhủ này “Hãy đợi đấy!”

Trong thời gian gần đây có một vài tín hiệu đáng mừng xuất hiện ở một số nơi, như việc hình thành Uy Ban Mục Vụ Giáo Dân, Trung Tâm Mục Vụ Giáo phận. Nhưng phải nói là tiến độ còn rất chậm và gặp không ít khó khăn từ chủ quan (thiếu người chuyên môn, thiếu sự quan tâm của những người có trách nhiệm chính, thiếu kinh phí) đến khách quan (thiếu sự hiểu biết và tin tưởng của phía xã hội). Nhưng nếu thế kỷ XXI và thiên niên kỷ thứ III là của giáo dân, thì chúng ta có quyền ngồi chờ không? Chúng ta có biết và có tìm cách biết xem ở bên cạnh và xung quanh chúng ta, các Giáo Hội Á châu khác đang nỗ lực như thế nào trong công cuộc đào tạo giáo dân không? Chúng ta có thể học được gì, cậy nhờ gì ở các Giáo hội chị em ấy không? Hay chúng ta thích theo chính sách “tự bế quan toả cảng” để khỏi phải vất vả?

Lạy Chúa Thánh Thần, xin Ngài hãy đến,

Xin Ngài hãy đến để đổi mới Giáo Hội Việt Nam là Cộng Đoàn của Ngài và do Ngài xây dựng bằng máu đào của 117 Thánh Tử Đạo, của Chân Phước Anrê Phú Yên và của hàng ngàn hàng vạn Kitô hữu đã hy sinh mạng sống vì Phúc Am trên mảnh đất thân thương này. Amen!!!

Gs. Giêrônimô Nguyễn Văn Nội
Comments:
I read over your blog, and i found it inquisitive, you may find My Blog interesting. So please Click Here To Read My Blog

http://pennystockinvestment.blogspot.com
 
Post a Comment

<< Trở Về Trang Chính - Trang Đầu
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?