Trong bóng đêm mịt mùng , nếu một ngọn nến , hai ngọn nến và hàng ngàn ngọn nến được đốt lên , bóng đêm hãi hùng của cô đơn , ích kỷ sẽ lùi xa..và mọi người sẽ xích lại gần nhau hơn....

Thursday, March 30, 2006

NHỮNG NGÀY HỒNG PHÚC

NHỮNG NGÀY HỒNG PHÚC

Sau khi mừng Chúa Nhật V Mùa Chay, chúng ta Chúa Nhật Lễ Lá, và tiếp theo là Tuần Thánh. Tuần Thánh là cao điểm của Năm Phụng Vụ Giáo Hội với ba ngày đặc biệt: Thứ Năm để kỷ niệm Chúa Giêsu lập Phép Thánh Thể và Chức Linh Mục, ngày cầu nguyện cho chúng ta thêm lòng sùng kính Chúa Giêsu Thánh Thể và xin ơn thánh hóa cho các Linh mục và hàng giáo sĩ; Thứ Sáu kỷ niệm Chúa Giêsu chịu chết trên Thánh Giá, ăn chay kiêng thịt và cầu nguyện cho những người tội lỗi được ơn thống hối lỗi lầm và cho những người đau khổ trên thế giới luôn biết vác Thánh giá theo chân Chúa; Thứ Bảy kỷ niệm việc Chúa chịu an táng trong mồ, ngày chúng ta cố gắng giữ im lặng trong tâm hồn để suy ngẫm sự thương khó và cái chết của Chúa vì tội lỗi chúng ta, và dọn tâm hồn đón mừng Chúa Phục Sinh; tiếp theo là Chúa Nhật Đại Lễ Phục Sinh.

Nêu lên những điểm chính của Phụng vụ trong những ngày sắp tới là để chúng ta cùng nhắc nhở cho nhau sống ý nghĩ từng ngày còn lại của Mùa Chay; đặc biệt với ba công việc chính là: CẦU NGUYỆN nhiều hơn. Cầu nguyện riêng tư để chúng ta có nhiều giờ đặt mình trước mặt Chúa và suy nghĩ về cuộc đời và cố gắng sửa đổi để nên tốt đẹp hơn; đó là thánh hóa bản thân. Cầu nguyện chung trong gia đình để tạo được bầu khí đạo đức và thánh hóa gia đình chúng ta. Những gia đình biết cầu nguyện chung là những gia đình dể sống hợp nhất và yêu thương nhau. HÃM MÌNH trong việc ăn uống. Hãm mình trong con mắt, trong lời nói và xa tránh những dịp tội lỗi, những nơi tội lỗi. Hãm mình trong lời nói để tránh gây chia rẻ và bất hòa. Hãm mình cũng là cách rất tốt để thánh hóa bản thân và gia đình. Ngòai ra hãm mình trong những chi tiêu để dành dụm và giúp đở những người nghèo khó trên thế giới. Làm VIỆC TỪ THIỆN (làm phúc bố thí) là cách đền tội tốt nhất. “Giúp đở những người nghèo khó thì tẩy xóa được mọi tội lỗi.” (Giving to the poor expiates every sin.” (Sách Tôbia 12:8). Thánh Lêo Giáo Hòang viết: “Lúc nào cũng là thời gian thuận tiện để làm việc từ thiện; nhưng đặc biệt nhất trong Mùa Chay… Lòng thương người bao gồm mọi nhân đức và xóa bỏ được muôn vàn tội lỗi!”.

Xin cầu nguyện chung cho nhau để những ngày còn lại trong Mùa Chay Thánh này là những ngày HỔNG PHÚC, những ngày được sống kết hiệp mật thiết hơn với Chúa, sống hòa hiệp yêu thương nhau hơn, và chung tay xây dựng gia đình và thế giới chúng ta nên tốt đẹp hơn, đòan kết và yêu thương nhau hơn để mừng Đại Lễ Phục Sinh sắp tới.

(Lm. Anphong Trần Đức Phương).
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Thursday, March 09, 2006

    Vinh danh tấm lòng bác ái vô bờ bến

    Vinh danh tấm lòng bác ái vô bờ bến
    của Sơ Mai Thị Mậu

    VietCatholic News (06/03/2006)

    Phương Anh

    Tấm lòng bác ái của Sơ Mai Thị Mậu

    Hàng năm, cứ đến ngày 8 tháng 3 là ngày Quốc Tế Phụ Nữ, được thế giới dành để vinh danh cho chị em phụ nữ chúng ta. Trong chương trình đặc biệt nhân dịp ngày Quốc Tế Phụ Nữ 8-3 năm nay, Phương Anh xin dành để giới thiệu đến quí vị một nữ tu, vừa được nhà nước Việt Nam phong tặng danh hiệu Anh Hùng Lao Động.

    Có thể nói đây là lần đầu tiên, một vị tu hành được nhà nước phong tặng danh hiệu rất cao quí này. Người đó chính là sơ Mai Thị Mậu, thuộc Tu Hội Nữ Tử Bác Ái Thánh Vinh Sơn.

    Thưa quí vị và các bạn, vào năm 1941, ở xã Hải An, Hải Hậu, Nam Định, một bé gái ra đời.Lớn lên, trong sự giáo dục của cha mẹ và với lòng từ tâm vô bờ bến, cô quyết định nguyện suốt đời phục vụ cho người nghèo khổ bất hạnh và trở thành nữ tu Tu Hội Bác Ái Thánh Vinh Sơn. Năm 1968, người nữ tu trẻ tuổi này tình nguyện đến trại phong cùi Di Linh. Lúc bấy giờ, Sơ Mai Thị Mậu vừa tròn 27 tuổi.

    Trại phong cùi Di Linh

    Vào năm 1973, khi cha Cassaigne, người sáng lập làng phong cùi này qua đời vì bị lây bệnh, người nữ tu trẻ tuổi này quyết định xin ở lại trại cùi vĩnh viễn để được tiếp tục săn sóc cho các bệnh nhân. Nơi rừng thiêng nước độc và hẻo lánh, cả làng phong cùi chỉ có đôi ba nữ tu phục vụ, chẳng một ai ngó ngàng đến. Sơ kể lại:

    "Lúc đó, đối với mọi người ai cũng sợ hết, những người phong họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ như nhà của họ, cách mấy chục thước thì họ làm cho cái nhà để mà ở. Thời đó ai cũng sợ lắm, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ.Chỉ ngoài những nữ tu phục vụ thì ở đó thôi. Cũng không có bệnh viện nào nhận hết, chỉ có một bệnh viện Chợ Quán, có hai chục giường là để riêng cho người bị bệnh phong, cần nằm thì cho nằm thôi.Còn ngoài ra, tất cả các bệnh viện khác, không có ai nhận người phong hết, vì họ quá sợ.Thành ra, trong trại, các nữ tu theo nghề nghiệp của mình phải lo cho họ, tất cả mọi thứ, ngoài bệnh phong ra, phải tìm mọi cách để mà lo cho họ... "

    Lúc đó, đối với mọi người ai cũng sợ hết, những người phong họ cho ở riêng một chỗ, chứ không ở chung trong gia đình. Ví dụ như nhà của họ, cách mấy chục thước thì họ làm cho cái nhà để mà ở. Thời đó ai cũng sợ lắm, không có ai dám bước đến trại phong, không ai giúp đỡ.

    Sơ Mai Thị Mậu kể lại

    Là một y tá, Sơ Mậu chịu trách nhiệm trực tiếp điều trị cho bệnh nhân. Bà nói: "Tay chân họ bị mất ngón, cụt, có thể nói là họ bị rụt, tức là nó nhỏ xíu lại, còn cong thì nó co lại, không kéo ra được..vi trùng này nó làm hại đến dây thần kinh trên mặt, trên tay.làm cho miệng méo, mắt không nhắm được, mũi thì sập cái sống mũi.bệnh này để lại tàn phế, bàn chân, bàn tay cứ bị co rụt cho nên bây giờ còn tồn tại là vì phải nuôi những người bị tàn phế, chân tay họ còn lở loét, mình còn phải chăm sóc họ."

    Nâng đỡ tinh thần của bệnh nhân

    Không những chỉ chăm sóc về thể xác, mà Sơ còn tìm cách nâng đỡ tinh thần của họ. Đa số những bệnh nhân khi đến trại đều bị gia đình bỏ rơi, hàng xóm láng giềng ghẻ lạnh.Sơ cho hay:

    "Ngày xưa, họ ở theo tập thể gia đình, cứ mỗi một cái nhà bằng gỗ, 12 thước, chia ra, những người độc thân thì chung với nhau, 2, 3 người chung một phòng, rất là thiếu tiện nghi. Lúc đó, cũng ít người có gia đình, vì những người vợ, hay chồng bị phong bị bỏ, thì vô trại, còn những vợ hay chồng không bị phong thì họ ở lại làng.đương nhiên là người ta sẽ lấy chồng khác, vợ khác. Khi họ vào đây thì họ lại lấy nhau làm thành một gia đình khác.Con cái theo mẹ, nếu sinh con ở đây thì con cái thuộc về đây luôn."

    Được hỏi làm thế nào để tránh cho con cái của bệnh nhân không bị nhiễm vi khuẩn phong? Sơ cho biết: lúc đầu, cách ly con ngay khi lọt lòng mẹ. Thế nhưng, vì điều kiện vật chất quá thiếu thốn nên khi tách con sớm như thế thì hay bị chết non.

    Do đó, Sơ Mậu quyết định để hẳn trong trại phong nhưng cách ly sinh hoạt, cho ăn uống và ngủ riêng. Nhờ vậy, sự lây lan cũng đỡ dần. Với quyết tâm xây dựng tương lai cho các con của bệnh nhân được học hành đến nơi đến chốn, Sơ Mậu tìm mọi cách thuyết phục các trường học thu nhận các em này. Sơ kể lại: "Hồi đầu tiên họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là chúng nó không có bệnh thì họ mới cho học.Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố HCM hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau.

    Những em học về ngành Y thì tụi nó trở về đây giúp, còn các ngành khác thì mình xin việc cho chúng nó làm như đi dậy học ở trường của tỉnh, còn kỹ sư thì chúng nó tự xin công việc ở thành phố hay các tỉnh.

    Nhưng nếu mình cần, thì cũng kêu các em về và cũng trả lương cho các em, thí dụ như em nào là kỹ sư nông nghiệp, mình có đất sản xuất, chăn nuôi, thì phải nhờ nó, thì mình cũng trả lương để các em về làm cho mình.Còn các em y, bác sĩ, thì nhà nước họ trả tiền lương."

    Hồi đầu tiên họ nhất định không cho học, nhưng sau này, khi họ biết các cháu ở riêng, và phải có giấy xác nhận là chúng nó không có bệnh thì họ mới cho học.Các em đi học từ mẫu giáo đến cấp ba, em nào đi học đại học thì cho nó đi học ở thành phố HCM hay ngoài Huế, theo các ngành nghề khác nhau.

    Làng phục hồi

    Để giúp cho gia đình của các bệnh nhân tự lập và hoà nhập vào cộng đồng, Sơ Mậu nảy ra sáng kiến lập làng phục hồi. Cũng nhờ ngày xưa, trước năm 1975, với sự hỗ trợ của nhà Dòng và các ân nhân, Sơ mua được một miếng đất hoang vu, cách trại chừng 12 km, và đưa những người còn có khả năng làm việc về nơi ấy sinh sống và khai khẩn đất hoang, Sơ nói: "Những người đó đã sạch vi trùng, tuy họ tàn phế, nhưng họ đã hết vi khuẩn rồi, cùng với con em của họ về đấy để làm thành một làng luôn, để họ hoà đồng vào xã hội.Tất cả những ai còn sức lao động, hay tàn phế vừa vừa thì mình chuyển họ lên đó, vì họ ở quá lâu trong này, không còn đất đai, nhà cửa nữa.nên nhờ có miếng đất đó họ làm ăn.

    Sau này, mình tập cho họ tự lo liệu lấy với hết khả năng của họ, rồi thiếu tới đâu, mình lo tới đó.mình tập cho họ không trở thành gánh nặng cho xã hội nữa.Thí dụ mình khoẻ mạnh thì mình làm được 90%, thì họ làm được 40%...."

    Cũng theo lời Sơ Mậu, hầu hết kinh phí để lo cho đời sống của bệnh nhân và con cái của họ là do các nữ tu tự xoay sở lấy. Trước kia, trại có sự hỗ trợ của nhà dòng và các ân nhân cùng bạn bè của cha Cassaigne. Sau năm 1975, nhà nước bắt đầu quản lý, thì:

    "Nhà nước quản lý thì được 5 ký gạo, và 5000 ngàn cho mỗi bệnh nhân..Sau đó, cứ lên dần, 20 ngàn, 50 ngàn.rồi 100 ngàn.bắt đầu năm nay thì được hai trăm ngàn một người.Bây giờ ở Việt Nam cũng nhờ có phong trào làm việc xã hội, nên họ cũng rủ nhau, qua những đoàn đi tham quan Đà Lạt, hoặc là thăm chuà, bên Công Giáo là các ngày lễ lớn, hay tết, thì người ta cũng rủ nhau đến tặng quà cho bệnh nhân.mỗi chỗ họ cho một ít."

    Sau 38 năm làm việc tại trại phong Di Linh, giờ đây, nhìn lại những gì đã trải qua, Sơ tâm sự: "Trong một khu vực mà chẳng một ai dám đến, nên đỡ đẻ cũng mình, nhổ răng cũng mình, chăm sóc cũng mình, chôn cất cũng mình, rồi lo ăn uống cũng mình.rồi lo nhà cửa cho họ. như một người mẹ lo cho các con vậy. Thật ra thì mình cũng có lý tưởng của mình rồi, không có sợ gì cả, giống như những người họ dấn thân vào bệnh Sida, nếu người ta sợ, người ta đâu có dấn thân lo cho Sida.

    Mình tận hiến để lo cho họ, những anh em nghèo khổ, đó là mục đích của mình.chăm sóc cho họ về thể xác và lo cho họ về tinh thần, dậy dỗ, giáo dục cho các em về nhân bản, sống thành một người công dân tốt trong xã hội và có thể đưa họ đến đời sống thánh thiện nữa. Mình phục vụ cho họ là vô vị lợi, chứ cũng chẳng cho gia đình mình."

    Tấm lòng của người mẹ

    Nữ hộ sinh kiêm điều dưỡng Ka Siuh, năm nay 31 tuổi, hiện đang làm việc tại khu điều trị thì nói: "Em sinh ra và lớn lên trong trại cùi này luôn.Dì Mậu như là người mẹ của tụi em vậy, dì săn sóc tụi em từ khi mới sinh ra cho đến khi lớn lên, học hành và lo cho tụi em đến khi thành tài."

    Anh Krung, năm nay 42 tuổi cho biết: "Tôi là người dân tộc. Tôi sống ở được 6 năm rồi, vô đây được các dì giúp đỡ. Từ ngày tôi mắc bệnh, tôi bất mãn và chán chường lắm. Từ khi tôi vô trại, được sự giúp đỡ, tôi cũng bớt mặc cảm đi.

    Tôi sống rất thoải mái và hạnh phúc. Trong một thời gian điều trị thì tôi hết bệnh.được sơ đào tạo cho một nghề sửa xe. Tôi thấy sơ Mậu như một người mẹ tốt, đã tận tình giúp tôi trong những ngày tôi đau ốm."

    Bác Đinh Văn Cung, người đã sống trong trại 40 năm qua, hiện có hai con đang theo học Đại Học Y Dược ở TPHCM, đã phát biểu:

    "Trong gần 40 năm, dì đã yêu thương, tận tình chăm sóc chúng tôi và làm cho cuộc sống của chúng tôi được hạnh phúc và tràn đầy niềm vui, những điều mà tưởng rằng chúng tôi không bao giờ có được nữa khi chúng tôi phải chịu nỗi bất hạnh của bệnh phong cùi.

    Dì đã cho con cái của chúng tôi một tương lai tươi sáng khi lo lắng, giúp đỡ, khích lệ từng đưá con của chúng tôi nỗ lực học tập để hoà nhập vào cộng đồng."

    Rất bản lĩnh

    Còn với Sơ Tiến, người đã làm việc trong trại 22 năm qua bên cạnh Sơ Mậu. Chứng kiến bao sự thăng trầm và gian nan vất vả của Sơ Mậu, thì chia xẻ: "Sơ Mậu là một người rất có bản lĩnh trong vấn đề phục vụ.giống như những người kinh doanh để làm giầu, bà bạo gan, bà dám nói, dám làm, bà rất táo bạo trong những công việc để phục vụ cho các bệnh nhân chứ không phải cho cá nhân bà.Nhờ đó, mà cho đến ngày hôm nay, các bệnh nhân và con em của bệnh nhân mới có được như ngày hôm nay."

    Thưa quí vị, vừa rồi là câu chuyện về Sơ Mai thị Mậu, người đã hy sinh và tận hiến cả cuộc đời mình ở trại cùi Di Linh, Lâm Đồng. Với tâm nguyện phần nào chăm sóc và xoa dịu những nỗi bất hạnh của những người bệnh phong cùi, với quyết tâm đem lại cho đời sống và con cái của họ được có một tương lai tốt đẹp, Sơ đã kiên trì vượt qua bao gian khổ, cùng chia xẻ bao mồ hôi và nước mắt với bệnh nhân, để ngày nay họ được hưởng một cuộc sống tươi sáng hơn.

    Cảm phục thay sự can đảm và hy sinh của bà ! Phương Anh xin dừng nơi đây. Hẹn gặp lại quí vị trong chương trình kỳ sau.

    Phương Anh
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Tuesday, March 07, 2006

    HITLER và ĐGH PIÔ XII

    Vào trung tuần tháng 12, 2005, Thủ Tướng Iran, Mahmoud Ahmadinejad, đã làm phẩn nộ nhiều Quốc Gia, kể cả Đức Quốc, khi phát biểu rằng câu chuyện về Cuộc Tàn Sát Người Do Thái ở Âu Châu, dưới thời Adolf Hitler (1889-1945), chỉ là chuyện hoang dường…

    Thực Sự, truyền thuyết “về tàn sát người Do Thái dưới thời Hitler chỉ là chuyện hoang đường…” đã có từ lâu trong thế giới Ả-rập.

    Ngược lại, tại Phương Tây, đã từ nhiều năm, có những phong trào lên án ĐGH Piô XII là người đã không làm gì để cứu vãn người Do Thái trong cuộc tàn sát người Do Thái của Hitler.

    Một học giả và cũng là Thầy Tế Lễ người Do Thái, Rabbi David G. DALIN, đã xuất bản cuốn sách: “THE MYTH OF HITLER’ S POPE: How Pope Pius XII Rescued Jews from the Nazis” để nói lên sự thật ngược hẳn lại với những quan niện sai lầm trên đây về cuộc Tàn Sát (The Holocaust) người Do Thái của Hitler và về Đức Piô XII. Cuốn“The Myth of Hitler’s Pope…”(Bìa Cứng) xuất bản vào tháng 7, năm 2005, Publisher Regnery Publishing, Inc.

    Rabbi David G. Dalin là tác giả và Đồng Tác Giả của nhiều cuốn sách, trong số đó có những cuốn như: The Presidents of The United States and the Jews (viết chung với Jonathan D. Sarna), Religion and State in the American Jewish Experience. Rabbi David đã tốt nghiệp Trường Đại Học UC Berkley với bằng Cử Nhân, và trường Đại Học Brandeis với bằng Cao Học và Tiến Sĩ; chịu chứcTư Tế tại Jewish Theological Seminary of America.

    Báo “Columbia” (của Hiệp Hội Knights of Columbus), tháng 11, 2005, đã giới thiệu cuốn sách trên đây bằng cách trích đăng một đọan trong cuốn sách (với sự chấp thuận của Tác Giả và Nhà Xuất Bản) với Tiêu đề : “Setting The Record Straight”. Bản lược dịch ra tiếng Việt Nam dưới đây căn cứ vào đọan trích này.

    (Lm. Anphong Trần Đức Phương)

    Thật là một điều khôi hài, khi mà đã 60 năm sau cuộc “Tàn Sát” (Holocaust), cùng với phong trào chống Do Thái (anti-Semitism) sôi động của những người Hồi Giáo cực đoan hiện đang phát triển mạnh mẽ giữa dân chúng ở Âu Châu, những phương tiện truyền thông vô lối ở Phương Tây vẫn đang cố gắng kết án ĐGH Piô XII (và kết án ngay cả Giáo Hội Công Giáo nói chung) là chống Do Thái.
    Trước đây chẳng ai tin được điều đó. Từ sau Thế Chiến II chấm dứt cho đến ít nhất là năm năm sau khi băng hà vào năm 1958, Đức Piô XII luôn được tôn sùng giữa những người theo Kitô giáo cũng như Do Thái giáo. Ngài đã được ca ngợi như là “nhà Tiên Tri tinh thần cương nghị và gây hứng khởi cho nhiều người” và “hầu như được cả thế giới hoan nghênh vì đã cứu những người Do Thái ở Âu Châu”. Đúng như một sứ giả đã nói: “Đức Piô XII đã được những người Công Giáo hay ngòai Công Giáo ca tụng ở khắp nơi như một vị lãnh đạo tinh thần không những của thế giới Công Giáo mà cho cả chính nền văn minh Âu Châu.”

    Vậy tại sao có huyền thọai là Giáo Hội đã không để ý đến những khốn khổ của người Do Thái trong Thế Chiến II? Và tại sao điều đó lại đáng quan tâm?

    Điều đó đáng quan tâm, trước hết, vì bổn phận phải tôn trọng sự thật. Điều đó cũng đáng quan tâm vì công cuộc bảo vệ danh tiếng của Đức Piô XII là một trong những công cuộc quan trọng nhất trong lịch sử của mặt trận văn hóa. Giới trí thức tả khuynh càng ngày càng “tả khuynh” hơn, muốn dèm pha chẳng những truyền thống Công Giáo mà cả truyền thống Kitô Giáo và ngay cả Do Thái Giáo. Không phải ngẩu nhiên mà những người đả kích Đức Piô XII mạnh mẽ nhất lại cũng là những người phê bình lớn tiếng Đức Giáo Hòang Gioan Phaolô II.

    Sự phủ nhận cuộc “Tàn Sát người Do Thái” phải bị bác bỏ. Sự thật về Đức Piô XII phải được phục hồi. Sư thật mà những phương tiện truyền thông đã ra sức chối bỏ chỉ giúp cho nhưng cuốn sách viết sai về lịch sử được bán chạy. Cuộc chiến của trào lưu ‘văn hóa vô lối’ chống lại nền văn hóa truyền thống, trong đó điển hình là cuộc chiến chống Đức Piô XII, phải được nhận diện rõ ràng; đó là cuộc tấn công ồ ạt vào nền tảng của Giáo Hội Công Giáo và nền tảng của tôn giáo truyền thống.

    Một trong những hậu quả tai hại nhất gây ra do huyền thọai về Đức Piô XII, mà một cuốn sách mới xuất bản gọi Ngài là Giáo Hòang của Hitler, là nó làm lưu truyền cái huyền thọai rằng: chính Giáo Hội Công Giáo, chứ không phải người Hồi Giáo cực đoan, đã là và vẫn còn là nguồn gốc nổi bật nhất gây ra phong trào chống Do Thái trong thế giới hiện đại.

    Tuy nhiên, theo nhận định của Gabriel Schoenfeld trong cuốn sách của ông “The Return of Anti-Semitism” (San Francisco: Encounter Books), một sự kiện không thể chối cải được, đó là chính trong thế giới Hồi Giáo, chứ không phải Kitô giáo, “mà truyền thống chống Do Thái thời xưa cũng như thời nay vẫn hợp nhất lại để phát sinh ra lòng thù hận người Do Thái”. Rất nhiều học giả và các nhà trí thức, các nhà lãnh đạo Cộng đồng của người Do Thái đồng ý điều đó. Abraham H. Foxman thuộc ‘Hiệp Hội Chống Phỉ Báng’ đã xác quyết: “Sự việc là phong trào chống Do Thái cuồng nhiệt đang lan tràn khắp nơi trong khối Ả-rập Trung Đông… Phong Trào Chống Do Thái được cả nhà cầm quyền Ả-rập bao dung hoặc công khai yểm trợ, được các phương tiện truyền thông Ả-rập loan truyền, được dạy tại các Trường Trung Học, Đại Học Hồi Giáo, và được rao giảng tại các Hội Đường Hồi Giáo (Mosques). Không một thành phần nào trong xã hội Hồi Giáo không bị tiêm nhiễm tư tưởng chống Do Thái.

    Phong trào chống Do Thái đã ăn rễ sâu xa và trở nên mạnh mẽ hơn do sự cộng tác của những người Hồi Giáo cự đoan với Đức Quốc Xã….

    Sự liên kết giữa những người Hồi Giáo cực đoan với Hitler trong thời chiến đã đem lại những hậu quả kéo dài trong thế giới Ả-rập. Những hậu quả đó đã đảo ngược lại những gì Giáo Hội Công Giáo đã làm trong Thế chiến II. Nói một cách thẳng thắn ra là: trong khi Đức Piô XII cố gắng cứu vớt những người Do Thái, thì Hajj Amin an-Husseini , viên Đại Phán Quan Hồi Giáo lúc đó ở Giêrusalem, lại ủng hộ ‘Giải Pháp cuối cùng’ của Hitler.

    Ngày nay, sau hơn 60 năm cuộc Tàn Sát, người chuyên gây hấn và là kẻ biện hộ cho Hitler, Hajj Amin an-Husseini, phải được nhớ lại và nhận diện ra rõ ràng hơn. Chính ông, chứ không phải ĐGH Piô XII, là một Giáo Sĩ nguy hiểm nhất trong lịch sử cận đại (theo nhận định của John Carwell). Chủ trương chống Do Thái cực đoan của Ông nguy hiểm trong Thế chiến II cũng như cho ngày nay. Trong thời gian ở Berlin, Ông đã gặp riêng Hitler nhiều lần khác nhau và đã công khai và nhắc đi nhắc lại nhiều lần lời kêu gọi hãy hủy diệt người Do Thái tại Âu Châu. Ông là kẻ hợp tác đắc lực nhất với chế độ Đức Quốc Xã. Nói Ông ta là người của Hitler thì đúng lắm rồi; còn nói ĐGH Piô XII là Giáo Hòang của Hitler thì chỉ là câu chuyện ngụy tạo!

    Thuộc dòng dõi một gia đình Palestine giàu có và nhiều quyền lực, Hajj Amin an-Husseini sinh ra tại Jerusalem năm 1893. Ông trở nên kẻ sôi nổi chuyên nghiệp chống Do Thái kể từ ngày 04-04-1920. Hồi đó, Ông và những kẻ tùy tùng đã bị khích động bởi những lời tuyên truyền khích động chống Do Thái, nên đã tìm cách tàn sát người Do Thái và cướp các tiệm buôn bán của người Do Thái. Ngày 28-3-1929, Ông chỉ huy cuộc tàn sát 60 người Do Thái ở Hebron; rồi ít ngày sau tiến hành cuộc tàn sát ờ Safad gây cho 45 người Do Thái bị giết.


    Suốt thập niên 1930, Ông tiếp tục gây nên phong trào bài Do Thái ở Palestine, và tìm cách làm quen với phong trào Đức Quốc Xã của Hitler. Cuối tháng 3 năm 1933, ít lâu sau khi Hitler lên cầm quyền, Ông đến gặp ông Đại Sứ Tòan Quyền của Đức Quốc Xã ở Giêrusalem, tiến sĩ Heinrich Wolff, và xin cộng tác. Mục đích của Ông, như Ông đã nhiều lần cắt nghĩa cho các sĩ quan Đức, là nhằm thật xa và thật rộng rãi. Nhưng mục đích gần là chống lại và chấm dứt phong trào lập cư của người Do Thái tại Palestine. Rồi xa hơn nữa là hình thành trong thế giới Ả-rập cũng như trong thế giới Hồi Giáo, một cuộc thánh chiến của Hồi Giáo liên kết với Đức Quốc Xã để tận diệt người Do Thái và giải quyết dứt khóat vấn đề Do Thái ở khắp nơi trên thế giới.


    Vào ngày 28-11-1941, Ông đã gặp Hitler lần đầu, rồi tiếp theo nhiều lần khác. Lúc đó những kẻ tuyên truyền cho chế độ Đức Quốc Xã miêu tả Ông như một nhà lãnh đạo tinh thần của cả Hồi Giáo. Theo sứ giả Kenneth R. Timmerman, liên minh vừa phát sinh giữa Hồi Giáo và Đức Quốc Xã do Ông dựng nên cùng với Hitler, đã đánh dấu cuộc khởi đầu làm cho phong trào Đức Quốc Xã chống Do Thái thành một phong trào quần chúng tràn vào thế giới Ả-rập; rồi dưới sự lãnh đạo của Ông và môn đệ của Ông là Yasser Arafat, phong trào đó đã tiếp nối cho đến ngày nay. Cũng theo sứ giả Kenneth R. Timmerman, mối liên hệ mật thiết của Ông với Hitler và việc Ông nhiệt thành ủng hộ “giải pháp cuối cùng” của Hitler, đã dệt nên mạng lưới chống Do Thái kéo dài từ quá khứ cho đến ngày nay. Nếu ngày nay phong trào Hồi Giáo chống Do Thái đã phát triển thành một cây cành lá xum xoe, thì rễ của nó đã được nuôi dưỡng trong chế độ Đệ Tam Đức Quốc Xã của Hitler.


    Trong suốt Thế chiến II, al-Husseini đã xuất hiện đều đều trên làn sóng phát thanh của Đức hướng về Trung Đông. Hơn nữa, trong suốt thời gian Đức Quốc Xã chiếm đóng Rôma, ĐGH Piô XII đã cứu thóat nhiều ngàn người Do Thái khỏi phải đưa đi trại Auschwitz và che dấu họ trong các Nhà Dòng ở Rôma, thì al-Husseni đã dùng làn sóng phát thanh của Đức Quốc Xã để kêu gọi hãy tận diệt người Do Thái ở Âu Châu: “Hãy giết bọn Do Thái bất cứ ở đâu bạn gặp được; điều đó làm đẹp lòng Allah, lịch sử và tôn giáo”.

    *

    * *

    Mối Liên Hệ giữa Do Thái Giáo và Công Giáo trong thời hiện đại:

    Trái với al-Husseni và chủ thuyết cực đoan chống Do Thái của Ông, ĐGH Gioan Phaolô II lại phát triển triết thuyết “Do Thái truyền thống” trong thời gian Giáo Hòang của Ngài. Ông George Weigel nhận định như sau: Từ khi được bầu chọn vào ngôi vị Giáo Hòang vào năm 1978, Đức Gioan Phaolô II đã bỏ nhiều công sức để thiết lập cuộc đối thọai giữ Công giáo và Do Thái giáo. Buổi đẩu gặp gở với các đại diện của Cộng đồng người Do Thái ở Rôma vào ngày 12/3/1979, Đức Gioan Phaolô II đã lưu ý rằng: “Hai Cộng Đồng tôn giáo chúng ta có liên hệ và sự liên lạc chặt chẻ ngay ở căn tính tương đồng của nhau”. Cuộc đối thọai giữa Do Thái giáo và Công giáo, nhìn theo quan điểm của người Công giáo, là một bổn phận tôn giáo.

    Suốt thập niên 1980, Đức Gioan Phaolô II đã mạnh mẻ kết án những hành động khủng bố nhằm vào các Hội đường Do Thái và Cộng Đồng Do Thái ở Vienna và Rôma. Ngài cũng luôn lên án phong trào bài Do Thái ở Âu Châu. Trong khi đó các nhà lãnh đạo khác ở Âu Châu lại không muốn có lập trường chống lại sự nổi dậy của phong trào Hồi Giáo chống Do Thái, phong trào này là một phần trong chương trình “Hồi Giáo hóa Âu Châu”. Điều này đặc biệt đúng tại Pháp là nơi những người theo Hồi Giáo chiếm tỷ lệ khỏang 10% dân số Pháp.

    Thực ra Đức Gioan Phaolô II là người thừa kế tinh thần của Đức Piô XII. Những kẻ chỉ trích vô lối thái độ mà họ gán cho là chống Do Thái của Đức Piô XII và Gioan Phalô II, lại ít dám kết án những cuộc bạo động chống Do Thái tại Isarel, tại Pháp và các nơi khác; những cuộc bạo động này đã xảy ra thực sự và có nhiều tài liệu đã ghi lại, thế mà họ đã chẳng dám lê án gì cả.

    Ngày nay, 60 năm sau “cuộc Tàn sát người Do Thái”, cần phải ghi nhớ rằng: trái ngược với truyền thuyết được phổ biến rộng rãi do các kẻ chỉ trích các Đức Giáo Hòang một cách bừa bãi gây nên, chính những nhà lãnh đạo Hồi giáo cực đoan và mạng lưới khủng bố của họ, chứ không phải là thời đại Giáo hòang hiện đại và các nhà lãnh đạo Công Giáo đương thời, đã đóng một vai trò lớn và cực đoan làm nổi dậy và phát triển phong trào chống Do Thái.

    Đức Gioan Phaolô II và Đức Piô XII là những người bạn rất chung thủy của người Do Thái. Vị Giáo Hòang kế vị Đức Gioan Phaolô II là Đức Bênêđíctô XVI cũng thế. Hồi còn là Hồng Y Joeph Ratzinger, Ngài đã viết: “Món Quà Giáng Sinh” là “Di sản của Abraham”. Ngài đã kết án cả những phong trào Kitô giáo chống Do thái, cũng như kết án “Cuộc Tàn Sát” người Do Thái của Đức Quốc Xã.

    Vào thời điểm này của năm 2005, cũng như vào thập niên 1930 và 1940, các vị Giáo Hòang đã và vẫn là những người bạn của người Do Thái. Những kẻ chối bỏ điều đó là chối bỏ lịch sử và tệ hại hơn nữa, họ lại tạo ra một tấm màn che dấu sự kiện chống Do Thái của thời đại chúng ta hôm nay.

    (XIN CHÚA THƯƠNG XÓT CHÚNG CON!

    XIN CHÚA NỐI KẾT CHÚNG CON NÊN MỘT TRONG TÌNH YÊU CHÚA!

    XIN CHÚA THƯƠNG BAN BÌNH AN CHO THẾ GIỚI CHÚNG CON!)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • This page is powered by Blogger. Isn't yours?